VKSND tối cao giải đáp 05 thắc mắc liên quan đến thi hành tạm giữ, thi hành án hình sự

10/06/2023 09:37 AM

VKSND tối cao giải đáp 05 thắc mắc liên quan đến thi hành tạm giữ, thi hành án hình sự là nội dung được đề cập tại Công văn 2160/VKSTC-V14 ngày 05/6/2023 do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.

VKSND tối cao giải đáp 05 thắc mắc liên quan đến thi hành tạm giữ, thi hành án hình sự

VKSND tối cao giải đáp 05 thắc mắc liên quan đến thi hành tạm giữ, thi hành án hình sự (Hình từ Internet)

Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Công văn 2160/VKSTC-V14 ngày 05/6/2023 về việc giải đáp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của BLHS, BLTTHS, THTG và THAHS.

Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có những giải đáp về một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến thi hành tạm giữ, thi hành án hình sự như sau:

Viện kiểm sát giải đáp 05 thắc mắc liên quan đến thi hành tạm giữ, thi hành án hình sự

Vướng mắc 1: Cơ quan nào có thẩm quyền điều chuyển người bị tạm giữ từ buồng tạm giữ đồn Biên phòng đến các cơ sở giam giữ trong Công an nhân dân?

Trả lời:

Điểm d khoản 4 Điều 19 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định: “Việc điều chuyển giữa cơ sở giam giữ trong Công an nhân dân với cơ sở giam giữ trong Quân đội nhân dân do thủ trưởng cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam nơi chuyển đi quyết định sau khi thống nhất với thủ trưởng cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam nơi nhận”.

Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 thì Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh thực hiện quản lý tạm giữ đối với Buồng tạm giữ của đồn Biên phòng.

Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 12 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 thì cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn quyết định việc điều chuyển người bị tạm giữ, tạm giam giữa các cơ sở giam giữ trong phạm vi tinh, quân khu.

Như vậy, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định việc điều chuyển người bị tam giữ từ các buồng tạm giữ của đồn Biên phòng đến các cơ sở giam giữ trong Công an nhân dân.

Nội dung này Bộ Công an cũng đã phối hợp với Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức cuộc họp lãnh đạo liên ngành tư pháp Trung ương và thống nhất về thẩm quyền như nêu trên, trong thời gian tới sẽ ban hành Hướng dẫn liên ngành để hướng dẫn các cơ quan, đơn vị địa phương thực hiện thống nhất.

Vướng mắc 2: Quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có đương nhiên hết hiệu lực không trong trường hợp bản án bị kháng nghị giám đốc thẩm và bị hủy để điều tra, xét xử lại?

Trả lời:

Quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù không đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp bản án bị kháng nghị giám đốc thẩm và bị hủy để điều tra, xét xử lại, vì đây là hai thủ tục độc lập với nhau, do các Hội đồng khác nhau thực hiện. Để xem xét hiệu lực quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì cần căn cứ vào kết quả điều tra, xét xử lại để xử lý, giải quyết:

Nếu kết quả điều tra lại, xét xử lại mà xác định bị cáo vô tội thì quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù không còn hiệu lực.

Nếu kết quả điều tra, xét xử lại mà bị cáo bị xử phạt tù thì phản biệt như sau:

(1) Trường hợp có mức án khác thấp hơn thì áp dụng chính sách có lợi theo hướng khấu trừ thời gian đã giảm án vào thời hạn phạt tù theo bản án mới;

(2) Trường hợp có mức án khác cao hơn thì đối với những quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù mà khi đó phạm nhân đủ điều kiện về thời gian chấp hành án theo mức án của bản án mới thì được khấu trừ, còn đối với những quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trước thời điểm phạm nhân đủ điều kiện về thời gian chấp hành án theo mức án của bản án mới sẽ không được khấu trừ.

Ví dụ: A bị xử phạt 27 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Bản án có hiệu lực pháp luật, A được đưa đi chấp hành án. Trong quá trình chấp hành án, A được giảm án. Tuy nhiên, VKSND cấp cao đã Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng hủy bản án. Bản án sau đó bị hủy. Kết quả điều tra, xét xử lại:

Trường hợp 1: A bị xử phạt 20 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Trong trường hợp này, kết quả điều tra, xét xử lại. A có mức án thấp hơn, áp dụng chính sách có lợi theo hướng khấu trừ thời gian đã giảm án vào thời hạn tù theo bản án mới.

Trường hợp 2: A bị xử phạt 07 năm tù về tội Giết người. Trường hợp này, kết quả điều tra, xét xử lại, A có mức án cao hơn mà theo mức án mới này, A chưa đủ điều kiện về thời gian chấp hành án để được giảm, do vậy, A sẽ không được khấu trừ.

Vướng mắc 3: Trường hợp người bị kết án tử hình không làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình mà chỉ có đơn kêu oan (Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm) thì có được coi là đủ điều kiện để thi hành án tử hình không hoặc đến khi tiến hành thi hành án tử hình bị án mới viết đơn ân giảm lên Chủ tịch nước thì có được hoãn thi hành án không?

Trả lời:

3.1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 367 BLTTHS năm 2015, đơn xin ân giảm hình phạt tử hình là đơn người bị kết án xin được giảm án, không phải chấp hành án tử hình và được gửi tên Chủ tịch nước trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; còn đơn kêu oan là đơn người bị kết án cho rằng mình bị oan, không có tội.

Đây là 02 loại đơn khác nhau. Do hiện nay pháp luật chỉ quy định việc bản án tử hình được thi hành khi có đủ 02 điều kiện:

(i) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng VKSND tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

(ii) Người bị kết án không có đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước, nên cần phải xác định: nếu người bị kết án chỉ có đơn kêu oan, không có đơn xin ân giảm thì Viện trưởng VKSND tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Trường hợp Viện trưởng VKSND tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao không kháng nghị, người bị kết án không có đơn xin ân giảm trong thời hạn quy định tại điểm d khoản 1 Điều 367 BLTTHS năm 2015 thì đủ điều kiện thi hành án tử hình theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 367 BLTTHS năm 2015.

3.2. Theo quy định tại khoản 1 Điều 81 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 thì Hội đồng thi hành án tử hình quyết định hoãn thi hành án tử hình nếu thuộc một trong các trường hợp sau: người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 BLHS; có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; ngay trước khi thi hành án, người bị kết án tử hình khai báo những tình tiết mới về tội phạm.

Khoản 2 Điều 9 Thông tư liên tịch số 02/2020/TTLT-BCA-BQP-BYT-BNG-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/10/2020 quy định về việc việc phối hợp tổ chức thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc có quy định về “có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan” trong trường hợp hoãn thi hành ân tử hình nêu trên được hiểu là:

Trường hợp gặp thiên tai, hỏa hoạn hoặc có trở ngại khách quan khác không thể tổ chức thực hiện được việc thi hành án tử hình hoặc các trường hợp như: trên đường áp giải, người bị thi hành án tử hình bị tai nạn phải đưa đến bệnh viện; trường hợp trang thiết bị, dụng cụ thi hành án tử hình bị hư hỏng; không xác định được tĩnh mạch; thuốc thi hành án tử hình không đúng chủng loại, chất lượng, số lượng hoặc các điều kiện khác bảo đảm cho việc thi hành án tử hình không đáp ứng được.

Theo đó, việc viết đơn xin ân giảm hình phạt tử hình khi tiến hành thi hành án không phải điều kiện để hoàn thi hành án tử hình.

Tuy nhiên, cần căn cứ tùy vào từng trường hợp cụ thể để xem xét, bảo đảm tính thận trọng trong việc thi hành án tử hình.

Vướng mắc 4: Việc giải quyết khiếu nại trong xét tha tù trước thời hạn có điều kiện được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 11 Điều 368 BLTTHS năm 2015 thì phạm nhân có quyền khiếu nại đối với quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết kháng nghị, khiếu nại các quyết định quy định tại khoản này được hiện theo quy định tại Chương XXII và Chương XXXIII của Bộ luật này.

Tại khoản 2 Điều 469 Chương XXXIII BLTTHS năm 2015 quy định: “Đối với... quyết định của... Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện nếu có khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị thì giải quyết theo quy định tại các chương XXI, XXIIXXIV, XXV, XXVI và XXXI của Bộ luật này”.

Như vậy, những khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện không thuộc phạm vi giải quyết theo quy định tại Chương XXXIII BLTTHS năm 2015 mà được thực hiện theo trình tự, thủ tục phúc thẩm quy định tại Chương XXII BLTTHS năm 2015.

Vướng mắc 5: Trường hợp Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và Viện kiểm sát đề nghị/yêu cầu Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh ra quyết định truy nã người bị kết án phạt tù tại ngoại, người hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù bỏ trốn thì có cần bắt buộc phải có đề nghị/yêu cầu của tất cả các cơ quan này không?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại khoản 9 Điều 16, khoản 6 Điều 14, khoản 4 Điều 23 khoản 4 Điều 25, khoản 6 Điều 37, Điều 167 và Điều 169 Luật Thi hành án hình sự năm 2019; khoản 3 Điều 364 BLTTHS năm 2015; Điều 25 và Điều 26 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 thì:

Chánh án Tòa án, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và Viện kiểm sát có thẩm quyền đề nghị/yêu cầu Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh ra quyết định truy nã trong trường hợp người bị kết án phạt tù tại ngoại bỏ trốn; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và Viện kiểm sát có thẩm quyền đề nghị/yêu cầu Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh ra quyết định truy nã trong trường hợp người hoãn chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù bỏ trốn.

Khi nhận được đề nghị/yêu cầu của một trong các cơ quan nêu trên (không bắt buộc phải có đề nghị/yêu cầu của tất cả các cơ quan này), thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có quyền ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt người bị kết án phạt tù tại ngoại, người hoãn chấp hành án phạt tù, người tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù bỏ trốn.

VKSND tối cao giải đáp 12 vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật Hình sự 2015

Xem thêm: VKSND tối cao giải đáp 12 vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật Hình sự 2015

Xem thêm nội dung tại Công văn 2160/VKSTC-V14 ngày 05/6/2023.

Chia sẻ bài viết lên facebook 1,681

Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn
Đơn vị chủ quản: Công ty cổ phần LawSoft. Giấy phép số: 32/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 15/05/2019 Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3935 2079