VKSNDTC giải đáp 14 vướng mắc về dân sự, tố tụng dân sự và lĩnh vực khác

01/12/2023 07:45 AM

Những vướng mắc về dân sự, tố tụng dân sự và lĩnh vực khác được VKSNDTC giải đáp như thế nào? – Thu Thủy (Sóc Trăng)

VKSNDTC giải đáp 14 vướng mắc về dân sự, tố tụng dân sự và lĩnh vực khác

VKSNDTC giải đáp 14 vướng mắc về dân sự, tố tụng dân sự và lĩnh vực khác (Hình từ internet)

Về vấn đề này, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT giải đáp như sau:

Ngày 15/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Công văn 4962/VKSTC-V14 về giải đáp khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, đề xuất của các đơn vị, viện kiểm sát các cấp qua sơ kết, giao ban công tác 9 tháng đầu năm 2023.

VKSNDTC giải đáp 14 vướng mắc về dân sự, tố tụng dân sự và lĩnh vực khác

1. Chưa có biện pháp xử lý số việc, số tiền chưa có điều kiện thi hành trong các vụ án về tham nhũng, kinh tế.

Trả lời:

Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Chỉ thị 06/CT-VKSTC ngày 26/6/2020 về tăng cường kiểm sát thi hành án dân sự về thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế, đề nghị VKSND các cấp thực hiện nghiêm các biện pháp được nêu trong Chỉ thị này.

Khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự về “Xác minh điều kiện thi hành án” quy định:

“Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án. Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án”.

Do vậy, để xử lý số tiền, số việc chưa có điều kiện thi hành thì Chấp hành viên phải thường xuyên xác minh và theo dõi về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án để kịp thời xử lý theo đúng quy định. VKS phải kiểm sát chặt chẽ việc Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án theo đúng quy định của pháp luật.

- Vụ Kiểm sát thi hành án dân sự (Vụ 11) VKSND tối cao, VKSND các cấp cần chủ động rà soát, phân loại số việc, số tiền chưa có điều kiện thi hành; nếu khó khăn xử lý theo từng nhóm và đề xuất biện pháp xử lý, báo cáo Lãnh đạo VKSND tối cao.

2. Hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách vẫn còn bất cập, chồng chéo, thiếu đồng bộ nên chưa đáp ứng được yêu cầu, như: Pháp luật về thi hành án dân sự về giá, về đấu giá tài sản và các quy định liên quan chưa quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ của VKSND khi tiến hành kiểm sát việc thẩm định giá, bán đấu giá tài sản của tổ chức thẩm định và tổ chức bán đấu giá; về thời hạn trả lời kiến nghị và việc thực hiện kiến nghị của VKS.

Trả lời:

- Chức năng, nhiệm vụ của VKSND khi tiến hành kiểm sát việc thẩm định giá, bán đấu giá tài sản về thi hành án đã quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 12 Luật Thi hành án dân sự, Điều 28 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, VKSND các cấp cần căn cứ vào các quy định này đề tiến hành kiểm sát việc thẩm định giá, bán đấu giá tài sản thi hành án.

- Theo quy định tại Điều 5 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Điều 34 và Điều 35 Quy chế công tác kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính (ban hành kèm theo Quyết định số 810/QĐ-VKSTC ngày 20/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao) (Quy chế 810) có quy định về việc các cơ quan thi hành án dân sự, Tòa án, cơ quan hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị của VKS. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định cụ thể thời gian trả lời kiến nghị của các cơ quan này. Đối với vướng mắc này, hiện nay, VKS các cấp cần thực hiện những biện pháp như:

(i) Xây dựng Quy chế phối hợp công tác liên ngành, trong đó có thể quy định thời hạn để Cơ quan thi hành án dân sự bị kiến nghị có trách nhiệm thực hiện và trả lời kiến nghị của VKS;

(ii) Trong văn bản kiến nghị khắc phục vi phạm ít nghiêm trọng của VKS có thể nêu rõ thời gian đề nghị cơ quan phải trả lời kiến nghị.

Đồng thời, thực hiện theo dõi, phúc tra việc thực hiện kiến nghị theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Quy chế 810.

3. Mẫu số 01 về Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án và Mẫu số 02 về Quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án ban hành kèm theo Công văn số 235/TANDTC-PC ngày 31/12/2021 của Chánh án TAND tối cao không thể hiện ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo, gây khó khăn cho công tác kiểm sát thời hạn ban hành Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án.

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án: VKSND chỉ được nhận Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành mà không quy định được nhận biên bản và các tài liệu kèm theo, đồng thời, tại mẫu Quyết định (ban hành kèm theo Công văn 235/TANDTC-PC ngày 31/12/2021 của Chánh án TAND tối cao không thể hiện ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo); do đó, Kiểm sát viên cần chủ động yêu cầu Tòa án cung cấp các thông tin trên để bảo đảm kiểm sát chặt chẽ quyết định.

4. Trường hợp tranh chấp đất đai đã được hòa giải thành tại UBND cấp xã, nhưng một bên đương sự không thực hiện theo nội dung đã hòa giải thành thì bên đương sự còn lại có quyền khởi kiện đến TAND để giải quyết không?

Trả lời:

Khoản 4 Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định:

“...Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì UBND cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo”.

Như vậy, trong trường hợp này, đương sự có quyền khởi kiện đến TAND để giải quyết, UBND cấp xã có trách nhiệm lập biên bản và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến TAND để giải quyết tranh chấp.

5. Cần quy định rõ “các tranh chấp khác”, “các yêu cầu khác” hoặc “các trường hợp khác” trong một số điều trong BLTTDS để thực hiện thống nhất.

Trả lời:

Quy định “các tranh chấp khác”, “các yêu cầu khác”, “các trường hợp khác” là những quy định mở nhằm mục đích dự liệu những trường hợp phát sinh trong thực tiễn mà pháp luật chưa có quy định cụ thể để điều chỉnh. Việc quy định cụ thể sẽ được hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan (như Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 về hướng dẫn một số quy định về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 BLTTDS 2015 có giải thích về “các trường hợp khác” tại khoản 4 Điều 6).

6. Khoản 2 Điều 21 BLTTDS chưa quy định cụ thể về việc VKS có tham gia các phiên tòa sơ thẩm đối với các vụ án có đương sự là người chưa thành niên nhưng vụ án Tòa không thu thập chứng cứ.

Trả lời:

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2015 thì VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm khi thuộc một trong các trường hợp sau:

(1) Trường hợp vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ;

(2) vụ án có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên... ”

 

Như vậy, BLTTDS 2015 đã quy định cụ thể VKS có trách nhiệm tham gia các phiên tòa sơ thẩm khi vụ án có đương sự là người chưa thành niên (không phân biệt là Tòa án có thu thập chứng cứ hay không thu thập chứng cứ).

7. Nhiều vụ án VKS phát hiện vi phạm và ban hành kháng nghị phúc thẩm nhưng khi nhận được kháng nghị của VKS, Thẩm phán giải quyết vụ án lại thông báo sửa chữa, bổ sung bản án có liên quan đến nội dung của quyết định kháng nghị thì có được chấp nhận không?

Trả lời:

Khoản 7 Điều 10 Quy định về hướng dẫn hoạt động của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa dân sự phúc thẩm (ban hành kèm theo Quyết định 363/QĐ-VKSTC ngày 12/10/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao) đã quy định:

“7. Trường hợp VKS đã ban hành kháng nghị, nhưng sau đó Tòa án đã tuyên bản án sơ thẩm lại ban hành quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm mà nội dung thông báo sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm có liên quan đến nội dung của quyết định kháng nghị thì:

a) Đối với trường hợp Tòa án ban hành quyết định sửa chữa, bổ sung bản án theo đúng quy định tại Điều 268 BLTTDS 2015, người nghiên cứu hồ sơ vụ án báo cáo, đề xuất người có thẩm quyền rút kháng nghị đối với nội dung kháng nghị mà Tòa án đã sửa chữa, bổ sung bản án;

b) Đối với trường hợp Tòa án ban hành quyết định sửa chữa, bổ sung bản án không đúng quy định tại Điều 268 BLTTDS 2015 thì người nghiên cứu hồ sơ vụ án báo cáo, đề xuất người có thẩm quyền giữ nguyên nội dung kháng nghị, đồng thời tổng hợp vi phạm để dự thảo phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm hoặc kiến nghị tổng hợp”.

8. Khi VKS tham gia phiên tòa, nhận thấy quyết định của bản án là không phù hợp với quy định của pháp luật, VKS kháng nghị trong thời hạn luật định nhưng không biết đương sự có kháng cáo hay không nên xảy ra trường hợp VKS kháng nghị nhưng đương sự không kháng cáo dẫn đến VKS rút kháng nghị do không còn cần thiết.

Trả lời:

- Khoản 4 Điều 10 Quy định 363/QĐ-VKSTC quy định:

“Trường hợp... xác định bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật... mà những đương sự... không kháng cáo mà VKS đã kháng nghị để bảo vệ quyền, lợi ích của họ nhưng họ có văn bản hoặc lời khai từ chối việc bảo vệ quyền lợi cho họ vì họ chấp nhận bản án sơ thẩm thì người nghiên cứu hồ sơ vụ án báo cáo, đề xuất người có thẩm quyền rút nội dung kháng nghị đó”.

- Khoản 2 Điều 326 BLTTDS 2015 quy định:

“2. Người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 BLTTDS 2015 kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và có đơn đề nghị theo quy định tại Điều 328 của BLTTDS 2015 hoặc có thông báo, kiến nghị theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 327 của BLTTDS 2015; trường hợp xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần phải có đơn đề nghị”.

Căn cứ các quy định nêu trên thì khi VKSND phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng cần phải chủ động thực hiện quyền kháng nghị để bảo đảm thời hạn, nếu sau khi kháng nghị mà đương sự không yêu cầu tiếp tục giải quyết, đồng thời có văn bản hoặc lời khai từ chối việc bảo vệ quyền lợi và chấp nhận bản án sơ thẩm thì Kiểm sát viên đề xuất rút kháng nghị (do liên quan đến quyền tự định đoạt của đương sự) trừ trường hợp xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần phải có đơn đề nghị.

9. BLTTDS không quy định thời hạn tạm đình chỉ cụ thể là bao lâu.

Trả lời:

Hiện BLTTDS 2015 không có quy định về thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, theo Điều 216 BLTTDS 2015 có quy định về quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự như sau: “kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án... không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, VKS cùng cấp”. Như vậy, pháp luật không có quy định cụ thể thời hạn tạm đình chỉ là bao lâu mà thời hạn tạm định chỉ này sẽ kéo dài cho đến khi khắc phục được lý do tạm đình chỉ và Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án.

10. Sau khi xét xử sơ thẩm, phát hiện bản án có vi phạm, VKS ngang cấp tiến hành các bước để kháng nghị. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại chậm trễ trong việc chuyển bản án cho VKS làm ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng và thời hạn thực hiện quyền kháng nghị.

Trả lời:

Điều 280 BLTTDS 2015, Điều 213 Luật TTHC 2015 quy định:

“Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của VKS cùng cấp là 15 ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án”. Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày VKS cùng cấp nhận được bản án”. Thông qua công tác kiểm sát, nếu phát hiện thời hạn bị chậm, VKS chủ động ban hành kiến nghị tổng hợp đề nghị Tòa án kiểm tra, rút kinh nghiệm và đề ra biện pháp khắc phục kịp thời, tránh để xảy ra những vi phạm tương tự.

11. Tại khoản 3 Điều 273 BLTTDS và khoản 3 Điều 206 Luật TTHC đều quy định đương sự có quyền gửi đơn kháng cáo qua dịch vụ bưu chính, trường hợp này ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trong khi theo quy định tại khoản 2 Điều 279 BLTTDS và khoản 2 Điều 212 Luật TTHC quyết định kháng nghị của VKS phải gửi trực tiếp cho Tòa án bị kháng nghị.

Trả lời:

Khoản 2 Điều 279 BLTTDS 2015:

“Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định và gửi hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 283 của Bộ luật này”.

Khoản 2 Điều 212 Luật TTHC 2015 quy định:

“Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục quy định tại Điều 216 của Luật này...”.

Căn cứ các quy định nêu trên thì pháp luật không quy định hình thức gửi quyết định kháng nghị VKSND mà chỉ quy định là “phải được gửi ngay”, do đó, VKSND có thể lựa chọn hình thức phù hợp (có thể trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính) và phải bảo đảm yêu cầu về thời hạn.

12. Khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh số 09/2014 quy định VKS có quyền yêu cầu khi thực hiện các hoạt động kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND. Tuy nhiên, không quy định cụ thể các trường hợp VKS được thực hiện quyền yêu cầu đối với Tòa án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Trả lời:

Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND (thay thế Pháp lệnh số 09/2014) không quy định cụ thể các trường hợp VKSND thực hiện “quyền yêu cầu” do quá trình xây dựng Pháp lệnh được thực hiện theo quy trình rút gọn, do vậy, nội dung của Pháp lệnh không thể quy định cụ thể, chi tiết những hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan liên quan. Quá trình tổng kết Pháp lệnh số 09/2014 (hiện là Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15) cho thấy, VKS vẫn thực hiện hiệu quả đối với các nội dung về “quyền yêu cầu”, việc thực hiện “quyền yêu cầu” căn cứ theo quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS được quy định cụ thể tại điểm a khoản 3 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định

“... VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho VKSND; cung cấp hồ sơ, tài liệu để VKSND kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp”.

Do đó, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án, khi cần thiết, VKS thực hiện quyền yêu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 và quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014 để bảo đảm mọi hoạt động tư pháp được thực hiện theo đúng quy định pháp luật.

13. Khoản 3 Điều 4 Pháp lệnh số 09/2014 quy định VKS chỉ có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ việc tại TAND cùng cấp sau khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ, tuy nhiên, Pháp lệnh số 09/2014 không quy định cụ thể thời hạn nghiên cứu hồ sơ, chuyển hồ sơ cho VSK để nghiên cứu tham gia phiên họp.

Trả lời:

Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 (thay thế Pháp lệnh số 09/2014) không quy định thời hạn nghiên cứu hồ sơ và việc TAND chuyển hồ sơ cho VKS để nghiên cứu tham gia phiên họp (quy định này tương tự với quy định tại Pháp lệnh số 09/2014). Đối với việc nghiên cứu hồ sơ, khoản 3 Điều 4 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 quy định:

“Sau khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ của Tòa án cùng cấp, VKS có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ việc tại Tòa án đã thụ lý, có quyền sao chụp hồ sơ vụ việc đó”.

Do đó, Kiểm sát viên cần chủ động nghiên cứu hồ sơ tại Tòa án từ thời điểm nhận được thông báo thụ lý cho đến trước khi mở phiên họp; trường hợp cần thiết thì yêu cầu Tòa án cho sao chụp lại hồ sơ, tài liệu để nghiên cứu, tham gia phiên họp.

14. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14[8] thì người đồng bào dân tộc thiểu số ở các “xã” đặc biệt khó khăn được miễn tạm ứng án phí, án phí. Vậy người đồng bào dân tộc thiểu số ở các “thôn” đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Ủy ban Dân tộc có thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí, án phí không?

Trả lời:

Quyết định 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban Dân tộc đã phê duyệt danh sách các thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn năm 2021-2025, trong đó, có nhiều thôn đặc biệt khó khăn nhưng không thuộc xã đặc biệt khó khăn, do đó, việc quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 là chưa đầy đủ. Vụ 14 sẽ ghi nhận để tham mưu Lãnh đạo VKSND tối cao kiến nghị cơ quan có thẩm về vấn đề này.

 

Chia sẻ bài viết lên facebook 1,669

Các tin khác
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn
Đơn vị chủ quản: Công ty cổ phần LawSoft. Giấy phép số: 32/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 15/05/2019 Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3935 2079