Người nộp thuế theo dự thảo Luật Thuế tài sản
1. Người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sở hữu, quyền sử dụng các tài sản thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 của Luật này.
2. Trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) bao gồm cả trường hợp đã chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận thì người đang sử dụng tài sản là người nộp thuế.
3. Người nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:
a) Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất là người nộp thuế.
b) Trường hợp người có quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản nhưng cho thuê theo hợp đồng thì người nộp thuế được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng không có thoả thuận về người nộp thuế thì người có quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản là người nộp thuế.
Trường hợp người có quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản không có mặt tại địa phương nơi có tài sản chịu thuế thì người sử dụng tài sản có trách nhiệm nộp thuế thay cho người có quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
c) Trường hợp tài sản đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đang có tranh chấp thì trước khi tranh chấp được giải quyết, người đang sử dụng tài sản là người nộp thuế. Việc nộp thuế không phải là căn cứ để giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
d) Trường hợp nhiều người cùng có quyền sở hữu, quyền sử dụng một tài sản thì người nộp thuế là người đại diện hợp pháp của những người cùng có quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đó.
e) Trường hợp người có quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản góp vốn kinh doanh bằng quyền quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản mà hình thành pháp nhân mới thì pháp nhân mới là người nộp thuế.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.