Theo đó, sửa đổi Điều 8 Luật Chuyển giao công nghệ 2017 quy định về góp vốn bằng công nghệ như sau:
- Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp công nghệ được góp vốn bằng công nghệ vào dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp, được thương mại hóa công nghệ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, pháp luật về doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Trường hợp dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước thì công nghệ đưa vào góp vốn phải được thẩm định giá theo quy định của pháp luật về giá và xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp trước khi thực hiện góp vốn.
- Nhà nước khuyến khích góp vốn bằng công nghệ tạo ra từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam thông qua các biện pháp hỗ trợ thẩm định giá, xác lập quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ hợp pháp.
Hiện nay, các hình thức chuyển giao công nghệ bao gồm:
- Chuyển giao công nghệ độc lập.
- Phần chuyển giao công nghệ trong trường hợp sau đây:
+ Dự án đầu tư;
+ Góp vốn bằng công nghệ;
+ Nhượng quyền thương mại;
+ Chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ;
+ Mua, bán máy móc, thiết bị;
- Chuyển giao công nghệ bằng hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Xem chi tiết nội dung tại Luật sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2026, trừ trường hợp:
Các khoản 2, 3 và 4 Điều 29, các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 30 Luật Chuyển giao công nghệ 2017 đã được sửa đổi theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 93/2025/QH15 được sửa đổi theo khoản 12 và khoản 13 Điều 1, điểm a khoản 21 Điều 1 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày Luật này được thông qua.