(1) Thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử và thời hạn gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử được xác định như sau:
- Thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đối với vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên không quá một phần hai thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm tương ứng được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đối với vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên được tính có số lẻ một phần hai ngày thì thời hạn được tính là số ngày liền kề ít hơn.
Ví dụ: Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với vụ án về tội phạm nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự là không quá 45 ngày thì thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với vụ án có bị can là người chưa thành niên theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên là không quá 22 ngày.
Trường hợp vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên nhưng tính chất đặc biệt phức tạp hoặc trong giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát, Tòa án ra thông báo áp dụng xử lý chuyển hướng thì thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được áp dụng theo quy định về thời hạn tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vụ án có tính chất đặc biệt phức tạp là vụ án mà tài liệu, chứng cứ có nhiều mâu thuẫn cần có thời gian tiến hành các hoạt động tố tụng để đánh giá, xử lý, giải quyết hoặc có người tham gia tố tụng đang ở nước ngoài.
- Thời hạn gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm không quá một phần hai thời hạn tương ứng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp vụ án có tính chất đặc biệt phức tạp thì thời hạn gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được áp dụng theo quy định về thời hạn tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(2) Nếu vụ án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 151 của Luật Tư pháp người chưa thành niên thì thời hạn tạm giam và thời hạn gia hạn tạm giam đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên không quá một phần hai thời hạn tương ứng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp thời hạn tính có số lẻ một phần hai ngày thì thời hạn được tính là số ngày liền kề ít hơn.
Ví dụ: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra lệnh bắt bị can và phê chuẩn lệnh bắt bị can Nguyễn Văn A là người chưa thành niên để tạm giam. Ngày 01/3/2025, Cơ quan điều tra bắt được A. Thời hạn điều tra vụ án còn 33 ngày. Như vậy, thời hạn tạm giam đối với bị can A theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự là không quá 33 ngày. Thời hạn tạm giam đối với A theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên sẽ được xác định là không quá 16 ngày.
Xem chi tiết tại Thông tư liên tịch 12/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.