
Thông tư liên tịch 08: Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong tố tụng hành chính (Hình ảnh từ Internet)
Ngày 10/3/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch 08/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC năm 2026 quy định về phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính.
![]() |
Thông tư 08/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC |
Cụ thể, tại Điều 23 Thông tư 08/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn về yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ như sau:
- Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, nếu Kiểm sát viên xét thấy cần xác minh, thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án kịp thời, đúng pháp luật thì Kiểm sát viên gửi văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 84 Luật Tố tụng hành chính 2015.
- Trước khi mở phiên tòa, Kiểm sát viên gửi văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ cho Tòa án đang giải quyết vụ án hành chính. Văn bản yêu cầu phải nêu rõ chứng cứ cần xác minh, thu thập, lý do cần xác minh, thu thập chứng cứ đó. Tòa án gửi cho Kiếm sát viên bản sao tài liệu, chứng cứ ngay sau khi Tòa án thu thập được. Neu tại phiên tòa, Tòa án mới nhận được tài liệu, chứng cứ đó thì Tòa án công bố tài liệu, chứng cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 182 Luật Tố tụng hành chính 2015. Trường hợp việc xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Kiểm sát viên là không thể thực hiện được hoặc Tòa án xét thấy không cần thiết thì chậm nhất là đến ngày hết thời hạn mở phiên tòa theo quyết định của Toà án, Tòa án thông báo cho Kiểm sát viên bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Tại phiên tòa, nếu Kiểm sát viên yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ thì phải nêu rõ chứng cứ cần xác minh, thu thập, lý do cần xác minh, thu thập chứng cứ đó. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 187 Luật Tố tụng hành chính 2015, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên. Trường họp Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên thì phải nêu rõ lý do, Kiểm sát viên tiếp tục tham gia phiên tòa. Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên tại phiên tòa và việc Hội đồng xét xử chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Trường hợp đã tạm ngừng phiên tòa nhưng việc xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Kiểm sát viên là không thể thực hiện được thì trước ngày Tòa án tiếp tục phiên tòa, Tòa án thông báo cho Kiểm sát viên bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Xem thêm Thông tư 08/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Căn cứ Điều 84 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 quy định về việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ như sau:
(1) Đương sự có quyền tự mình thu thập chứng cứ bằng những biện pháp sau đây:
- Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, thông điệp dữ liệu điện tử;
- Thu thập vật chứng;
- Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng;
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ án mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý;
- Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng;
- Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;
- Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản;
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các công việc khác theo quy định của pháp luật.
(2) Trong các trường hợp do Luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:
- Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
- Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng;
- Xem xét, thẩm định tại chỗ;
- Trưng cầu giám định;
- Quyết định định giá tài sản;
- Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ;
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án;
- Biện pháp khác theo quy định của Luật này.
(3) Khi tiến hành các biện pháp quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 2 Điều 84 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024, Thẩm phán phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.
(4) Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ quy định tại điểm a và điểm g khoản 2 Điều này.
Khi Thẩm tra viên tiến hành biện pháp quy định tại điểm g khoản 2 Điều 84 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.
(5) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thu thập được tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải thông báo cho các đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
(6) Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án. Trường hợp kháng nghị bản án hoặc quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì Viện kiểm sát có thể xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc kháng nghị.