Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ tháng Một năm 2026

06/02/2026 10:26 AM

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Một tăng nhẹ 0,05% so với tháng trước chủ yếu do giá thịt lợn tăng do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ tăng cao, giá ăn uống ngoài gia đình, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng do nhu cầu sơn sửa nhà cửa đón năm mới của người dân tăng. CPI tháng Một tăng 2,53% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tháng 01/2026 tăng 3,19%.

Trong mức tăng 0,05% của CPI tháng Một so với tháng trước, 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.

(1) Chín nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

– Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,70% (tác động làm tăng CPI chung 0,16 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,60%; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,57%; giá dịch vụ khác liên quan đến nhà ở tăng 0,59% do nhu cầu sửa sang nhà cửa cuối năm tăng; giá gas tăng 4,29% do giá gas thế giới tăng; giá điện sinh hoạt tăng 0,33%; nước sinh hoạt tăng 0,27%[1]; giá dịch vụ về điện sinh hoạt tăng 0,33%; giá thuê nhà tăng 0,29%. Ở chiều ngược lại, giá dầu hỏa giảm 3,85% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá trong tháng.

– Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,58% do nhu cầu tiêu dùng và sử dụng làm quà biếu tặng tăng vào dịp Tết Nguyên đán khiến giá rượu bia tăng 0,45%; thuốc hút tăng 0,60%; đồ uống không cồn tăng 0,89%.

– Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,41%, chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng: Nhóm đồ trang sức tăng 2,55%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,9%; dịch vụ chăm sóc cá nhân và vật dụng, dịch vụ về cưới hỏi cùng tăng 0,56%; vật dụng thờ cúng tăng 0,43%; bảo hiểm y tế tăng 0,09%.

– Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,26% do nhu cầu mua sắm tăng trong mùa cưới và dịp Tết Nguyên đán. Trong đó, giá nồi điện tăng 0,78%; bàn là điện tăng 0,74%; máy hút bụi tăng 0,59%; bình nước nóng nhà tắm tăng 0,57% do nhu cầu sử dụng tăng vào mùa lạnh; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,46%; hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,30%; thiết bị gia đình lớn có động cơ tăng 0,28%; đèn điện thắp sáng tăng 0,27%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,25%. Giá dịch vụ trong gia đình tăng 1,43% do nhu cầu thuê người phục vụ dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc gia đình tăng vào dịp trước Tết; giá sửa chữa thiết bị gia đình tăng 0,22% do chi phí nhân công và thay thế linh kiện tăng.

– Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,25% do chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu cùng với nhu cầu mua sắm quần áo và giày dép tăng trong dịp Tết Nguyên đán. Trong đó, giá vải các loại tăng 0,58% so với tháng trước; mũ nón tăng 0,51%; giày dép tăng 0,38%; quần áo may sẵn tăng 0,18%; may mặc khác tăng 0,23%; dịch vụ may mặc tăng 0,71%; dịch vụ giày dép tăng 0,01%.

– Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,20% (tác động làm CPI chung tăng 0,07 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực tăng 0,29%[2]; nhóm thực phẩm tăng 0,09%[3]; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,44%[4].

– Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,19%, trong đó chỉ số giá nhóm dịch vụ y tế tăng 0,23%, chủ yếu do Cần Thơ triển khai áp dụng giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo Quyết định số 277/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố. Bên cạnh đó, các bệnh cảm cúm, đường hô hấp gia tăng, nhu cầu tiêu dùng các loại thuốc về giảm đau, hạ sốt, đường hô hấp, vitamin và khoáng chất của người dân tăng. Cụ thể, giá thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 0,26%; nhóm thuốc vitamin và khoáng chất và thuốc chống dị ứng và các trường hợp quá mẫn cùng tăng 0,21%; thuốc tim mạch tăng 0,16%.

– Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,07% chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán và chi phí dịch vụ liên quan tăng, tập trung chủ yếu ở những mặt hàng sau: Giá nhóm vật cảnh tăng 0,66%; đồ chơi tăng 0,44%; du lịch trọn gói tăng 0,05% do nhu cầu đi du lịch của người dân và chi phí dịch vụ tăng; khách sạn, nhà khách tăng 0,24%. Ở chiều ngược lại, giá sách, báo, tạp chí các loại giảm 0,22%; vật phẩm văn hóa giảm 0,21%; thiết bị dụng cụ thể thao giảm 0,08%; thiết bị văn hóa giảm 0,07%.

– Nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,05%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 0,04% chủ yếu do một số trường tư thục, nghề, giáo dục đại học và sau đại học tại một số địa phương điều chỉnh học phí. Bên cạnh đó, giá sản phẩm từ giấy tăng 0,16%; bút viết các loại tăng 0,15%; riêng nhóm văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác giảm 0,04%.

(2) Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm:

– Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,15%, trong đó, giá phụ kiện máy điện thoại và máy tính bảng giảm 0,72%; máy điện thoại thông minh và máy tính bảng giảm 0,46%; ti vi màu giảm 0,09% do các doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá bán, triển khai các chương trình khuyến mại, xả hàng cuối năm; dịch vụ viễn thông giảm 0,29%. Ở chiều ngược lại, giá dịch vụ sửa chữa điện thoại tăng 0,46% do chi phí nhân công tăng; máy vi tính và phụ kiện tăng 0,19%; máy in, máy chiếu, máy quét tăng 0,18% do chi phí linh kiện và nhu cầu mua sắm tăng.

– Nhóm giao thông giảm 2,32%, làm CPI chung giảm 0,23 điểm phần trăm, trong đó: Chỉ số giá xăng giảm 5,34%, chỉ số giá dầu diezen giảm 3,23%; chỉ số giá xe ô tô mới giảm 0,14%; chỉ số giá xe ô tô đã qua sử dụng giảm 0,03%. Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng có giá tăng: Nhu cầu đi lại của người dân tăng vào dịp cuối năm làm cho giá vận tải hành khách bằng đường hàng không tăng 15,18%; vận tải hành khách bằng đường sắt tăng 4,94%; vận tải hành khách bằng xe buýt tăng 0,36%; giá phụ tùng ô tô tăng 0,26%; lốp, săm xe máy tăng 0,20%; phụ tùng khác của xe máy tăng 0,17%; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 0,60% do chi phí nhân công và nhu cầu tăng trong dịp cuối năm; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,44%.

Lạm phát cơ bản[5] tháng Một tăng 0,35% so với tháng trước, tăng 3,19% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 2,53% của CPI bình quân chung. Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, năng lượng là yếu tố góp phần làm giảm CPI chung nhưng đã được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 29/01/2026, giá vàng thế giới bình quân ở mức 4.733,31 USD/ounce, tăng 8,65% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do dòng vốn đầu tư vào vàng gia tăng, cùng với hoạt động mua ròng liên tục của các Ngân hàng Trung ương. Bên cạnh đó, đồng đô la Mỹ suy yếu trong bối cảnh kỳ vọng nới lỏng chính sách tiền tệ cùng với nhu cầu nắm giữ các tài sản thực của nhà đầu tư tăng lên trước những căng thẳng địa chính trị và bất ổn toàn cầu, qua đó tiếp tục củng cố vai trò trú ẩn an toàn của vàng làm giá vàng tăng mạnh. Trong nước, giá vàng bám sát xu hướng thế giới, đồng thời nhu cầu tích trữ và đầu tư tăng lên trong bối cảnh các kênh đầu tư thay thế chưa ổn định, giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao. Chỉ số giá vàng tháng Một tăng 5,02% so với tháng trước; tăng 77,1% so với cùng kỳ năm trước.

Tính đến ngày 29/01/2026, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 98,1 điểm, giảm 0,21% so với tháng trước chủ yếu do kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ điều chỉnh theo hướng nới lỏng chính sách tiền tệ trong năm 2026, làm giảm sức hấp dẫn của các tài sản định giá bằng USD. Bên cạnh đó, lợi suất trái phiếu Mỹ có xu hướng hạ nhiệt, dòng vốn đầu tư dịch chuyển sang các thị trường và đồng tiền khác, trong khi một số đồng tiền chủ chốt như Euro và Yên Nhật phục hồi tương đối. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng Một giảm 0,29% so với tháng trước; tăng 3,18% so với cùng kỳ năm trước.

[1] Chỉ số giá điện, nước sinh hoạt tháng 01/2026 phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác do được tính dựa trên doanh thu và sản lượng tiêu dùng của tháng 12/2025.

[2] Giá gạo tăng so với tháng trước do nguồn cung trong nước giảm nhẹ vào cuối vụ, trong khi nhu cầu tiêu dùng và dự trữ phục vụ Tết Nguyên đán tăng. Theo đó, chỉ số giá nhóm gạo tăng 0,30% (Giá gạo tẻ thường tăng 0,24%, gạo tẻ ngon tăng 0,36%, gạo nếp tăng 1,28%, gạo lứt tẻ tăng 0,34%). Bên cạnh đó, một số mặt hàng lương thực tháng 01/2026 tăng so với tháng trước như: Giá bột ngô và ngũ cốc ăn liền cùng tăng 0,55%; bún, bánh phở, bánh đa tăng 0,47%; khoai tăng 0,39%; miến tăng 0,38%; mì sợi, mì, phở, cháo ăn liền tăng 0,29%; bột mì tăng 0,25%; ngũ cốc khác tăng 0,21%. Ở chiều ngược lại, giá ngô giảm 0,91%; giá sắn giảm 0,30%.

[3] Chỉ số giá thịt lợn tăng 3,76%; giá thịt gia cầm tăng 0,40%; giá thủy sản tươi sống tăng 0,49%; chỉ số giá quả tươi, chế biến tăng 0,62%; chỉ số giá bánh, mứt, kẹo tăng 0,87%. Một số nhóm thực phẩm khác có giá tăng như đồ gia vị tăng 0,66%; các loại đậu và hạt tăng 0,41%; nước mắm, nước chấm tăng 0,31%; sữa, bơ, phô mai tăng 0,21%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,19%; đường, mật tăng 0,05%. Ở chiều ngược lại, chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến giảm 10,28%; giá trứng các loại giảm 0,84%.

[4] Do giá nguyên liệu chế biến ở mức cao và chi phí nhân công tăng, trong đó giá ăn ngoài gia đình tăng 0,47%; uống ngoài gia đình tăng 0,26%; đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,41%.

[5] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.

Theo Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê

Link bài viết: https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/02/chi-so-gia-tieu-dung-chi-so-gia-vang-va-chi-so-gia-do-la-my-thang-mot-nam-2026/

Ngày đăng: 06/02/2026

Chia sẻ bài viết lên facebook 1,746

Các tin khác
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn
Đơn vị chủ quản: Công ty cổ phần LawSoft. Giấy phép số: 32/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 15/05/2019 Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3935 2079