
Quy định về tạm ứng tiền lương cho người lao động trước Tết 2026
Theo quy định tại khoản 3 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 về kỳ hạn trả lương thì người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
Đồng thời, tại Điều 101 Bộ luật Lao động 2019 quy định về tạm ứng tiền lương như sau:
- Người lao động được tạm ứng tiền lương theo điều kiện do hai bên thỏa thuận và không bị tính lãi.
- Người sử dụng lao động phải cho người lao động tạm ứng tiền lương tương ứng với số ngày người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 01 tuần trở lên nhưng tối đa không quá 01 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và người lao động phải hoàn trả số tiền đã tạm ứng.
Người lao động nhập ngũ theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 thì không được tạm ứng tiền lương.
- Khi nghỉ hằng năm, người lao động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 128 Bộ luật Lao động 2019 cũng quy định trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc, người lao động được tạm ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc.
Do đó, nếu người lao động thuộc các trường hợp dưới đây thì công ty phải thực hiện tạm ứng tiền lương mà không được phép từ chối:
- Khi người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
- Khi người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 01 tuần trở lên nhưng tối đa không quá 01 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
- Khi nghỉ hằng năm.
- Khi trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc.
Đối với trường hợp tạm ứng không nằm trong 04 trường hợp nêu trên, người lao động có thể thỏa thuận với công ty về việc tạm ứng tiền lương vào dịp Tết Âm lịch 2026.
Căn cứ theo quy định đã nêu tại mục 1, mức tiền tạm ứng lương được xác định tùy theo từng trường hợp cụ thể.
Đối với các trường hợp được pháp luật quy định rõ, mức tạm ứng được giới hạn như sau:
- Tối đa 1 tháng tiền lương nếu người lao động nghỉ để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 1 tuần trở lên.
- Ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ khi người lao động nghỉ hằng năm.
- 50% tiền lương trong thời gian người lao động bị tạm đình chỉ công việc.
Riêng đối với trường hợp tạm ứng theo thỏa thuận, pháp luật không quy định mức trần cụ thể. Điều này đồng nghĩa với việc mức tạm ứng hoàn toàn phụ thuộc vào sự thống nhất giữa người lao động và người sử dụng lao động, dựa trên điều kiện tài chính của doanh nghiệp và nhu cầu thực tế của người lao động.
Theo khoản 2 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định phạt tiền đối với người sử dụng lao động không tạm ứng hoặc tạm ứng không đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau đây:
- Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
- Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
- Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
- Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
- Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
Lưu ý: mức phạt quy định trên đây là mức phạt đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. (khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP)
Như vậy, nếu công ty không đồng ý tạm ứng tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc thì công ty sẽ chịu mức phạt hành chính từ tuỳ vào số lượng người lao động mà công ty không trả tiền tạm ứng. Mức phạt tiền sẽ từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.