Theo đó, các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm được quy định như sau:
(1) Các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm bao gồm:
- Giám sát bệnh truyền nhiễm thực hiện theo quy định tại Điều 13 của Luật này;
- Khai báo thông tin về bệnh truyền nhiễm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
- Đánh giá nguy cơ, cảnh báo dịch bệnh; điều tra, xử lý ổ dịch, dịch bệnh và báo cáo, thông tin dịch bệnh;
- Khoanh vùng, kiểm soát, ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh giữa khu vực có dịch bệnh và khu vực không có dịch bệnh theo quy định của Chính phủ;
- Cách ly y tế;
- Kiểm dịch y tế;
- Sử dụng vắc xin, sinh phẩm trong phòng bệnh;
- Bảo đảm an toàn sinh học, an ninh sinh học trong xét nghiệm;
- Tổ chức cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh; vệ sinh khử khuẩn trong vùng có dịch và các biện pháp bảo vệ cá nhân;
- Các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khác do Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định phù hợp với tình hình thực tế.
(2) Trường hợp xảy ra dịch bệnh quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Luật này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã theo thẩm quyền có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các biện pháp quy định tại khoản (1).
(3) Trường hợp xảy ra dịch bệnh quy định tại điểm b khoản 2 Điều 15 Luật này, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, căn cứ tình hình thực tế quyết định áp dụng các biện pháp quy định tại khoản (1) và quy định của pháp luật về phòng thủ dân sự, pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
(4) Thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban bố và bãi bỏ cấp độ phòng thủ dân sự về dịch bệnh và tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh quy định tại khoản 3 Điều 15 Luật này thực hiện theo quy định của pháp luật về phòng thủ dân sự, pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
Xem thêm tại Luật Phòng bệnh 2025 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.