Theo đó, phương pháp và nguyên tắc tự phân loại được quy định như sau:
- Toàn bộ dư nợ và số dư cam kết ngoại bảng của một khách hàng tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam phải được phân loại vào cùng một nhóm nợ và là nhóm nợ có mức độ rủi ro cao nhất trong các nhóm nợ của các khoản nợ và/hoặc cam kết ngoại bảng của khách hàng đó.
- Đối với khoản cấp tín dụng hợp vốn, Ngân hàng Phát triển Việt Nam tham gia cấp tín dụng hợp vốn có trách nhiệm thông báo cho ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là thành viên tham gia cấp tín dụng hợp vốn về kết quả tự phân loại nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư này.
- Đối với khoản nhận ủy thác cho vay, cấp phát vốn mà Ngân hàng Phát triển Việt Nam chịu rủi ro, Ngân hàng Phát triển Việt Nam phải phân loại khoản nhận ủy thác như là một khoản cho vay đối với khách hàng.
Đối với khoản trả thay theo cam kết bảo lãnh theo ủy thác mà Ngân hàng Phát triển Việt Nam chịu rủi ro, Ngân hàng Phát triển Việt Nam phải phân loại khoản trả thay như là một khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng đối với khách hàng.
- Đối với khoản nợ đã bán (trừ khoản nợ đã được sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro) nhưng chưa thu được đầy đủ tiền bán nợ thì Ngân hàng Phát triển Việt Nam phân loại số tiền chưa thu được theo hợp đồng mua, bán nợ như là khoản nợ chưa bán, cụ thể như sau:
Ngân hàng Phát triển Việt Nam phân loại số tiền chưa thu được đối với bên mua nợ vào nhóm nợ mà khoản nợ đó đã được phân loại tại thời điểm phân loại nợ gần nhất trước khi bán và căn cứ vào các thông tin về thời hạn, kỳ hạn và thông tin khác tại hợp đồng tín dụng đã ký với khách hàng có khoản nợ được bán để tiếp tục phân loại số tiền chưa thu được theo quy định tại Thông tư này.
- Đối với khoản chiết khấu giấy tờ có giá:
+ Dưới hình thức mua có kỳ hạn: Ngân hàng Phát triển Việt Nam phân loại khoản chiết khấu như là một khoản cho vay đối với người thụ hưởng;
+ Dưới hình thức mua có bảo lưu quyền truy đòi: Ngân hàng Phát triển Việt Nam phân loại khoản chiết khấu như là một khoản cho vay đối với người thụ hưởng như sau:
++ Trước thời điểm Ngân hàng Phát triển Việt Nam có quyền thực hiện quyền truy đòi theo hợp đồng chiết khấu, Ngân hàng Phát triển Việt Nam căn cứ vào tình hình thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thanh toán của người phát hành theo thỏa thuận phát hành giấy tờ có giá và thông tin, dữ liệu về khả năng trả nợ của người thụ hưởng để thực hiện phân loại đối với khoản chiết khấu.
++ Kể từ thời điểm Ngân hàng Phát triển Việt Nam có quyền thực hiện quyền truy đòi theo hợp đồng chiết khấu, Ngân hàng Phát triển Việt Nam căn cứ thời gian quá hạn theo thỏa thuận phát hành giấy tờ có giá và khả năng trả nợ của người thụ hưởng để tiếp tục phân loại khoản chiết khấu vào nhóm nợ có mức độ rủi ro phù hợp.
- Đối với các khoản nợ vi phạm pháp luật quy định tại điểm c(iv) khoản 2 Điều 9 Thông tư này, tại thời điểm phát hiện vi phạm, Ngân hàng Phát triển Việt Nam phải ra ngay quyết định thu hồi theo quy định của pháp luật.
+ Đối với các khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra, quyết định xử phạt vi phạm hành chính (sau đây gọi tắt là thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra), Ngân hàng Phát triển Việt Nam phải ra quyết định thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra.
+ Đối với các khoản nợ vi phạm pháp luật quy định tại điểm c(iv) khoản 2 Điều 9 Thông tư này, các khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra, Ngân hàng Phát triển Việt Nam không được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và trong thời gian chưa thu hồi được theo quyết định thu hồi, Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện phân loại nợ theo quy định tại Thông tư này.
- Đối với khoản nợ phát sinh từ các hoạt động cấp tín dụng khác mà Ngân hàng Phát triển Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật, Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện phân loại theo nguyên tắc tự phân loại áp dụng đối với các hoạt động đó tại ngân hàng thương mại.
- Đối với khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, số lần cơ cấu lại thời hạn trả nợ là tổng số lần thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với từng khoản nợ, kể từ thời điểm phát sinh khoản nợ đến thời điểm khách hàng hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ trả nợ, thanh toán cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Xem thêm tại Thông tư 68/2025/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 31/12/2025.