Theo đó, việc xác nhận sửa đổi, bổ sung liên quan đến nghĩa vụ được Chính phủ bảo lãnh theo thỏa thuận vay đã ký do yêu cầu của đối tượng được bảo lãnh được Bộ Tải chính thực hiện khi nhận đầy đủ các hồ sơ hợp lệ sau đây:
- Văn bản đề nghị của đối tượng được bảo lãnh giải trình rõ lý do, nội dụng đề nghị xác nhận và ảnh hưởng của xác nhận sửa đổi, bổ sung liên quan đến nghĩa vụ được Chính phủ bảo lãnh theo thỏa thuận vay đã ký đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của đối tượng được bảo lãnh theo thỏa thuận vay;
- Các văn bản sửa đổi, bổ sung của thỏa thuận vay đã ký;
- Ý kiến về việc sửa đổi, bổ sung liên quan đến nghĩa vụ được Chính phủ bảo lãnh trong thỏa thuận vay của người nhận bảo lãnh;
- Dự thảo văn bản xác nhận sửa đổi, bổ sung liên quan đến nghĩa vụ được Chính phủ bảo lãnh theo thỏa thuận vay do người nhận bảo lãnh đề xuất (nếu có).
Trường hợp nội dung sửa đổi, bổ sung liên quan đến nghĩa vụ dược Chính phủ bảo lãnh theo thỏa thuận vay đã ký không làm tăng tổng trị giá vay gốc được Chính phủ bảo lãnh vả không thay đổi đối tượng được bảo lãnh, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Tải chính quyết định và phát hành văn bản xác nhận trong vòng 15 ngày làm việc kề từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ từ đối tượng được bảo lãnh.
Lưu ý: Đối với các hồ sơ đánh giá điều kiện vay lại của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được gửi đến Bộ Tài chính trước ngày Nghị định này có hiệu lực, trên cơ sở thành phần hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định 97/2018/NĐ-CP , Bộ Tài chính thực hiện đánh giá việc đáp ứng các điều kiện cho vay lại của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Kết quả đánh giá việc đáp ứng các điều kiện cho vay lại của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ sở để trình cấp có thẩm quyền xem xét việc đảm phản điều ước quốc tế và ký kết thỏa thuận vay.
Xem chi tiết tại Nghị định 84/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 25/3/2026.