Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ tháng Hai và 02 tháng đầu năm 2026

06/03/2026 08:54 AM

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2026 tăng 1,14% so với tháng trước nguyên nhân chính là do giá thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình và dịch vụ giao thông tăng do nhu cầu mua sắm, đi lại của người dân tăng trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ. CPI tháng Hai tăng 1,19% so với tháng 12/2025 và tăng 3,35% so với cùng kỳ năm 2025.

Bình quân hai tháng đầu năm 2026, CPI tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,47%.

Trong mức tăng 1,14% của CPI tháng 02/2026 so với tháng trước các nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính đều tăng giá.

– Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,02% (tác động làm CPI chung tăng 0,72 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực tăng 0,94%[1]; thực phẩm tăng 2,34%[2] (tác động tăng 0,52 điểm phần trăm); ăn uống ngoài gia đình tăng 1,71%[3] (tác động tăng 0,16 điểm phần trăm).

– Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,36% chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán và chi phí dịch vụ liên quan tăng, tập trung ở những mặt hàng sau: Giá nhóm cây, hoa cảnh tăng 9,51%; xem phim, ca nhạc tăng 2,32%; vật cảnh tăng 1,72%; đồ chơi tăng 0,26%; du lịch trọn gói tăng 1,6% do nhu cầu đi du lịch của người dân và chi phí dịch vụ tăng; khách sạn, nhà khách tăng 0,63%. Ở chiều ngược lại, giá thiết bị dụng cụ thể thao giảm 0,12%; sách, báo, tạp chí các loại giảm 0,05%.

– Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,30%, chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng: Nhóm đồ trang sức tăng 8,23% theo giá vàng trong nước; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 4,27% do nhu cầu làm đẹp dịp cuối năm tăng cao; dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 3,36%; vật dụng, dịch vụ về hỉ tăng 1,23%; vật dụng dịch vụ về hiếu tăng 0,83%; dịch vụ hành chính, pháp lý tăng 0,27%.

– Nhóm giao thông tăng 1,23% làm CPI chung tăng 0,12 điểm phần trăm, trong đó: Chỉ số giá xăng tăng 1,95%, chỉ số giá dầu diezen tăng 6,34%; giá vận tải hành khách bằng đường hàng không tăng 21,07%; vận tải hành khách bằng đường bộ tăng 3,60%; vận tải hành khách bằng taxi tăng 0,76%; vận tải hành khách bằng xe buýt tăng 0,37%. Dịch vụ giao nhận hành lý và hành lý ký gửi tăng 4,33%; giá phụ tùng ô tô tăng 0,69%; lốp, săm xe máy tăng 0,60%; lốp, săm xe đạp tăng 0,50%; phụ tùng khác của xe máy tăng 0,31%; dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 4,42%; dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 2,03%; dịch vụ trông giữ xe tăng 1,75%. Ở chiều ngược lại, chỉ số giá xe ô tô mới giảm 0,07%; xe ô tô đã qua sử dụng giảm 0,39%.

– Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,18% do nhu cầu tiêu dùng và sử dụng làm quà biếu tặng tăng vào dịp Tết Nguyên đán làm giá rượu bia tăng 1,69%; giá thuốc hút và đồ uống không cồn cùng tăng 0,59%.

– Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,57% do nhu cầu mua sắm tăng dịp Tết Nguyên đán. Trong đó, giá hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,91%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,74%; hàng dệt trong nhà tăng 0,63%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,62%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,55%; đồ nhựa và cao su tăng 0,54%; bàn là điện tăng 0,44%; nồi điện tăng 0,21%; máy hút bụi tăng 0,09%. Giá dịch vụ trong gia đình tăng 5,01% do nhu cầu thuê người phục vụ dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc gia đình tăng vào dịp Tết; giá sửa chữa thiết bị gia đình tăng 0,78% do chi phí nhân công và thay thế linh kiện tăng.

– Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,56% (tác động làm tăng CPI chung 0,13 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,67%; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 1,02%; giá dịch vụ khác liên quan đến nhà ở tăng 0,44%; giá gas tăng 1,40%; giá điện sinh hoạt tăng 0,52%; nước sinh hoạt tăng 0,72%[4]; giá dịch vụ về điện sinh hoạt tăng 0,80%; dịch vụ về nước sinh hoạt tăng 0,73%; giá dầu hỏa tăng 4,30%.

– Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,55% do chi phí nhân công, nguyên vật liệu cùng với nhu cầu mua sắm quần áo và giày dép tăng trong dịp Tết Nguyên đán. Trong đó, giá vải các loại tăng 0,78% so với tháng trước; quần áo may sẵn tăng 0,55%; giày dép tăng 0,49%; may mặc khác tăng 0,68%; dịch vụ may mặc tăng 1,34%; dịch vụ giày dép tăng 1,33%. Riêng mũ nón giảm 0,21% do một số cửa hàng khuyến mại kích cầu tiêu dùng.

– Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,14%, trong đó, chỉ số giá nhóm dịch vụ y tế tăng 0,14%[5], nhóm thuốc tăng 0,14% do các bệnh cảm cúm, đường hô hấp gia tăng, nhu cầu tiêu dùng các loại thuốc về giảm đau, hạ sốt, đường hô hấp, vitamin và khoáng chất của người dân tăng. Cụ thể, giá thuốc giảm đau hạ sốt, chống viêm không steroid và thuốc điều trị gút và các bệnh xương tăng 0,16%; thuốc tác dụng trên đường hô hấp; nhóm thuốc vitamin và khoáng chất và thuốc đường tiêu hóa cùng tăng 0,08%; thuốc tim mạch tăng 0,13%.

– Nhóm giáo dục tăng 0,09%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 0,09% chủ yếu do một số trung tâm dạy thêm, một số trường tư thục điều chỉnh học phí. Bên cạnh đó, giá sản phẩm từ giấy tăng 0,10%; bút viết các loại tăng 0,20%; nhóm văn phòng phẩm, đồ dùng học tập khác tăng 0,17%.

– Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,01%, trong đó, giá điện thoại cố định tăng 0,28%; máy điện thoại di động thông thường tăng 0,19%; giá dịch vụ sửa chữa điện thoại tăng 0,49% do chi phí nhân công tăng. Ở chiều ngược lại, máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,45%; thiết bị âm thanh giảm 0,43%; phụ kiện máy điện thoại và máy tính bảng giảm 0,25%; ti vi màu giảm 0,18% do các doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá bán và triển khai các chương trình khuyến mại, xả hàng cuối năm nhằm kích cầu tiêu dùng.

Lạm phát cơ bản[6] tháng 02/2026 tăng 0,82% so với tháng trước, tăng 3,74% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân hai tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 3,47% so với năm trước, cao hơn mức tăng 2,94% của CPI bình quân chung, nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, năng lượng là yếu tố góp phần làm giảm CPI chung nhưng đã được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

 Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 28/02/2026, giá vàng thế giới bình quân ở mức 5.023,09 USD/ounce, tăng 6,12% so với tháng trước do nhu cầu của các nhà đầu tư tiếp tục gia tăng trong bối cảnh các bất ổn kinh tế và địa chính trị kéo dài, đặc biệt là căng thẳng thương mại và lo ngại về tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ hạ nhiệt làm tăng sức hấp dẫn của vàng đối với nhà đầu tư, qua đó đẩy đà tăng của giá vàng trong tháng. Trong nước, nhu cầu mua sắm vàng lấy may trong ngày Thần Tài sau Tết Nguyên đán tăng góp phần làm chỉ số giá vàng tháng 02/2026 tăng 11,42% so với tháng trước; tăng 88,42% so với cùng kỳ năm trước; tăng 17,01% so với tháng 12/2025; bình quân hai tháng đầu năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 82,67% so với cùng kỳ năm 2025.

 Tính đến ngày 28/02/2026, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 97,31 điểm, giảm 0,81% so với tháng trước chủ yếu do đồng USD suy yếu tương đối khi một số đồng tiền chủ chốt phục hồi trở lại. Bên cạnh đó, tâm lý thị trường ổn định hơn và xu hướng phân bổ lại dòng vốn đầu tư sang các khu vực khác làm giảm nhu cầu nắm giữ USD trong ngắn hạn, qua đó khiến chỉ số USD trong tháng giảm. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 02/2026 giảm 0,89% so với tháng trước; tăng 2,31% so với cùng kỳ năm trước; giảm 1,18% so với tháng 12/2025. Bình quân hai tháng đầu năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,74% so với cùng kỳ năm 2025.

[1] Nhu cầu tiêu dùng gạo và các mặt hàng lương thực chế biến tăng trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, đồng thời nhu cầu dự trữ, chuẩn bị lễ Tết tại nhiều địa phương gia tăng cùng với chi phí lưu thông, vận chuyển tăng trong giai đoạn cao điểm Tết. Trong đó, chỉ số giá nhóm gạo tăng 1,0% (Giá gạo tẻ thường tăng 0,79%, gạo tẻ ngon tăng 1,33%, gạo nếp tăng 3,26%, gạo lứt tẻ tăng 0,82%). Bên cạnh đó, một số mặt hàng lương thực tăng như: Giá khoai tăng 1,83%; bún, bánh phở, bánh đa tăng 1,34%; miến tăng 1,20%; bột ngô tăng 0,96%; ngũ cốc khác tăng 0,83%; bột mì tăng 0,82%; mì sợi, mì, phở, cháo ăn liền tăng 0,49%.

[2] Chỉ số giá thịt lợn tăng 7,43%; giá thịt gia cầm tăng 2,58%; giá thủy sản tươi sống tăng 2,59%; chỉ số giá quả tươi, chế biến tăng 5,13%; chỉ số giá bánh, mứt, kẹo tăng 1,08%; các loại đậu và hạt tăng 1,26%; chè, cà phê, ca cao tăng 1,0%; đồ gia vị tăng 0,79%; nước mắm, nước chấm tăng 0,67%; sữa, bơ, phô mai tăng 0,61%; đường, mật tăng 0,53%; giá trứng các loại tăng 0,31%. Ở chiều ngược lại, chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến giảm 7,77% do điều kiện thời tiết thuận lợi giúp sản xuất rau vụ đông diễn ra ổn định, nguồn cung rau củ dồi dào và phong phú.

[3] Do giá nguyên liệu chế biến ở mức cao và chi phí nhân công tăng. Bên cạnh đó, nhu cầu liên hoan, tất niên, tân niên và du xuân đầu năm tăng cao tác động làm giá ăn ngoài gia đình tăng 1,84%; uống ngoài gia đình tăng 1,17%; đồ ăn nhanh mang đi tăng 1,47%.

[4] Chỉ số giá điện, nước sinh hoạt tháng 02/2026 phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác do được tính dựa trên doanh thu và sản lượng tiêu dùng của tháng 01/2026.

[5] Giá dịch vụ y tế tại tỉnh Cà Mau tăng 5,47% do triển khai áp dụng giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo Nghị quyết số 47/NQ-HĐND ngày 09/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh.

[6] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.

Theo Thông tin điện tử Cục Thống kê 

Link bài gốc: https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/03/chi-so-gia-tieu-dung-chi-so-gia-vang-va-chi-so-gia-do-la-my-thang-hai-va-02-thang-dau-nam-2026/

Ngày đăng: 06/03/2026 

Chia sẻ bài viết lên facebook 1,901

Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn
Đơn vị chủ quản: Công ty cổ phần LawSoft. Giấy phép số: 32/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 15/05/2019 Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3935 2079