Theo Nghị quyết 23/NQ-CP năm 2026, thời gian tới, dự báo tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục kéo dài; tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư toàn cầu chậm, tiềm ẩn nhiều rủi ro...
Đối với nước ta, năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, chúng ta vừa tập trung thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, trong đó có chỉ tiêu tăng trưởng đạt 2 con số, vừa phải tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy, nhất là đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, làm tốt công tác chăm lo đời sống, chuẩn bị Tết cho nhân dân, vừa tiếp tục xử lý khó khăn, vướng mắc, tồn tại kéo dài và ứng phó kịp thời, hiệu quả với những vấn đề phát sinh.
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát kỹ lưỡng các nhiệm vụ trong tháng 02 và quý I năm 2026 để ưu tiên nguồn lực, tập trung chỉ đạo, thực hiện hiệu quả, tạo đà cho những tháng tiếp theo; trong đó bao gồm chú trọng những nội dung như:
- Theo dõi sát diễn biến tình hình, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, phấn đấu tăng trưởng GDP quý I năm 2026 đạt khoảng 8%, cả năm đạt từ 10% trở lên.
- Điều hành lãi suất, tỷ giá, tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng; tăng cường kiểm tra, thanh tra, chỉ đạo các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt chẽ nợ xấu, chất lượng tín dụng; hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng. Quản lý và thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp ổn định, an toàn, hiệu quả.
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tập trung nghiên cứu để ổn định kinh tế vĩ mô (lãi suất, tỷ giá, dự trữ ngoại tệ, lạm phát), đề xuất kịp thời giải pháp hiệu quả, báo cáo Thủ tướng Chính phủ vào thứ 7 hằng tuần.
- Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách nhà nước, chống thất thu, mở rộng cơ sở thu, nhất là từ thương mại điện tử, dịch vụ ăn uống, các cửa hàng bán lẻ...; phấn đấu thu ngân sách nhà nước năm 2026 vượt ít nhất 10% so với thực hiện năm 2025. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất hỗ trợ người dân, doanh nghiệp.
- Điều hành linh hoạt kỳ hạn, khối lượng, lãi suất phát hành trái phiếu chính phủ. Tiếp tục triển khai quyết liệt, hiệu quả các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được Thủ tướng Chính phủ giao.
- Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia ngành giao thông vận tải, dự án liên tỉnh, liên vùng, kết nối quốc gia, khu vực, quốc tế. Khẩn trương rà soát, đầu tư nâng cấp hoàn thiện các tuyến đường bộ cao tốc đã đầu tư theo quy mô phân kỳ.
Xem thêm tại Nghị quyết 23/NQ-CP ngày 07/02/2026.

Phấn đấu tăng trưởng GDP quý I năm 2026 đạt khoảng 8% (Hình từ internet)
Các tổ chức quốc tế đánh giá khác nhau về mức tăng trưởng kinh tế năm 2025 của các quốc gia Đông Nam Á nhưng đều cho rằng tăng trưởng của Việt Nam cao nhất khu vực. Theo đó, tăng trưởng năm 2025 của Việt Nam được dự báo trong khoảng từ 6,2-7,4%; Philippines từ 4,7-5,4%; Indonesia từ 4,8-5,0%; Malaysia từ 4,1-5,0%; Singapore từ 2,2-4,1% và Thái Lan đạt khoảng 2,0%.
GDP năm 2025 tăng trưởng khá với mức tăng ước đạt 8,02% so với năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%.
Về cơ cấu nền kinh tế năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,64%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%; khu vực dịch vụ chiếm 42,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,96% (Cơ cấu tương ứng của năm 2024 là 12,03%; 37,52%; 42,35%; 8,10%).
Theo Số liệu của Cục Thống kê