
Lập văn phòng đại diện của UBND cấp tỉnh ở nước ngoài từ 01/01/2026 (Hình từ Internet)
Quốc hội thông qua Nghị quyết 250/2025/QH15 cơ chế chính sách đặc thù về hội nhập quốc tế
Tại Chương IV Nghị quyết 250/2025/QH15 quy định về Hội nhập quốc tế của chính quyền địa phương như sau:
Thí điểm lập văn phòng đại diện của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ở nước ngoài (Điều 14)
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được thí điểm thành lập văn phòng đại diện ở nước ngoài theo quy định của pháp luật quốc gia nơi đặt văn phòng đại diện. Kinh phí hoạt động của văn phòng đại diện được bảo đảm từ ngân sách địa phương.
2. Chính phủ quy định điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý văn phòng đại diện của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ở nước ngoài.
Tham gia các cơ chế hợp tác, diễn đàn, mạng lưới của các thành phố, đô thị lớn của chính quyền địa phương (Điều 15)
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc tham gia các cơ chế hợp tác, diễn đàn, mạng lưới của các thành phố, đô thị lớn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp xã mà việc tham gia không thông qua việc ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế trên cơ sở đường lối đối ngoại của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, lợi ích quốc gia, dân tộc, đáp ứng các yêu cầu về quốc phòng, an ninh và tính hiệu quả.
2. Kinh phí tham gia các cơ chế hợp tác, diễn đàn, mạng lưới của các thành phố, đô thị lớn và việc thực hiện các hoạt động trong khuôn khổ hợp tác này được bảo đảm từ ngân sách địa phương.
Bảo đảm ngân sách cho hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế của địa phương (Điều 16)
Chi cho hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, sử dụng nguồn chi thường xuyên của ngân sách địa phương. Kinh phí để thực hiện hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế của địa phương từ nguồn ngân sách địa phương và nguồn hợp pháp khác theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật khác có liên quan.
Như vậy, từ 01/01/2026, sẽ thí điểm lập văn phòng đại diện của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ở nước ngoài.
Xem thêm tại Nghị quyết 250/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/01/2026.
Trước đó, Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết 59-NQ/TW năm 2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới gồm các mục tiêu như sau:
1. Mục tiêu tổng quát: Nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính đồng bộ, toàn diện, sâu rộng, của hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần thiết thực xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, phát triển nhanh, bền vững; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; không ngừng cải thiện toàn diện đời sống nhân dân, vì hạnh phúc của Nhân dân; giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia; nâng cao vai trò, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước. Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Mục tiêu cụ thể
(i) Hội nhập kinh tế quốc tế: Phát huy vai trò tiên phong, trung tâm của hội nhập kinh tế quốc tế trong huy động nguồn lực, tri thức, kinh nghiệm quốc tế, nắm bắt và thích ứng với các xu thế quốc tế quan trọng để phục vụ phát triển và bảo vệ đất nước. Mở rộng và đa dạng hóa thị trường; nâng cao giá trị gia tăng và hàm lượng khoa học công nghệ trong thương mại và phát triển bền vững Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tể, doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam; xây dựng các thương hiệu mạnh và có vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị và cung ứng toàn cầu. Nâng cao chất lượng hiệu quả hợp tác, thu hút đầu tư nước ngoài; khả năng hấp thụ và chuyển giao công nghệ; năng lực quản trị quốc gia và doanh nghiệp, bảo vệ môi trường, đảo tạo nhân lực chất lượng cao. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, nâng cao khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh kinh tế và an ninh tài chính quốc gia. Xây dựng, phát triển trung tâm tài chính khu vực và quốc tế tại Việt Nam theo đúng tiến độ, lộ trình trên tinh thần đổi mới mạnh mẽ để phát triển bút phá.
(ii) Hội nhập quốc tế về chính trị, quốc phòng, an ninh: Giữ vững môi trường hòa bình và cục diện đối ngoại thuận lợi. Xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược, gia tăng đan xen lợi ích nhằm ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột. Phát huy vai trò và thế mạnh đối ngoại quốc phòng và đối ngoại công an nhân dân trong hóa giải nghi kỵ, bất đồng, gia tăng tin cậy, mở đường cho hợp tác, hội nhập trong một số lĩnh vực khác, nhất là các lĩnh vực kinh tế mới nổi. Bảo đảm Việt Nam luôn ở trong số các quốc gia có môi trường hòa bình, an toàn nhất thế giới. Củng cố khuôn khổ quan hệ với các đối tác, các tổ chức quốc tế đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững, mang lại hiệu quả thiết thực. Nâng cao vai trò, đóng góp tích cực, chủ động hơn của Việt Nam trong nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Phấn đấu là thành viên nòng cốt tại một số cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế, trọng tâm là ASEAN, Liên hợp quốc, khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đẩy mạnh xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp, đồng bộ với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Kết hợp nội lực với tranh thủ ngoại lực, tăng cường tiềm lực, khả năng tự chủ, tự lực, tự cường về quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
(iii) Hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, văn hóa, xã hội, du lịch, mỗi trường, giáo dục - đào tạo, y tế và các lĩnh vực khác: Nâng cao chất lượng hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ, đi đối với quản trị rủi ro công nghệ; chú trọng tiếp thu công nghệ và tiến tới làm chủ một số công nghệ chủ chốt Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu và liên tục nâng hạng vào các năm tiếp theo; ít nhất 40% tổng số doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo; đưa Việt Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch quốc tế, thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới; hoàn thành cơ bản các Mục tiêu Phát triển bền vững của Liên hợp quốc; đưa nền giáo dục và hệ thống y tế Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực; phát triển một số trường đại học lớn trong nhóm hàng đầu khu vực châu Ả Thái Bình Dương và nhóm 100 trường đại học hàng đầu thế giới.
(iv) Nâng cao năng lực và bản lĩnh chính trị hội nhập quốc tế: Nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều phối hoạt động hội nhập quốc tế; công tác nội luật hóa và năng lực thực thi pháp luật, cam kết, thỏa thuận quốc tế. Tạo chuyển biển căn bản về chất lượng nhân lực và năng lực hội nhập quốc tế của đội ngũ cán bộ các cấp, ngang tầm với trình độ khu vực. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nhất là cho thế hệ trẻ, ngăn chặn hiệu quả âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.