
Quy định về học bổng khuyến khích học tập từ 15/3/2026 (Hình từ internet)
Ngày 02/03/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 66/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Giáo dục.
Cụ thể, theo Điều 7 Nghị định 66/2026/NĐ-CP đã nêu hướng dẫn quy định chi tiết về Học bổng khuyến khích học tập từ 07/3/2026 như sau:
(1) Đối tượng xét, cấp học bổng khuyến khích học tập:
(i) Học sinh trường trung học phổ thông chuyên (sau đây gọi chung là trường chuyên), học sinh trung học phổ thông chuyên trong cơ sở giáo dục đại học có kết quả rèn luyện và kết quả học tập đạt mức cao nhất trong các mức đánh giá kết quả rèn luyện, kết quả học tập của học sinh trung học phổ thông thuộc kỳ xét, cấp học bổng và có điểm trung bình môn chuyên của học kỳ xét, cấp từ 8,5 trở lên hoặc đạt một trong các giải từ khuyến khích trở lên trong kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hoặc phối hợp tổ chức hoặc kỳ thi cấp khu vực hoặc quốc tế của năm học đó do Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định chọn cử;
(ii) Học sinh các trường năng khiếu có kết quả rèn luyện đạt từ mức Khá trở lên, kết quả học tập từ mức Đạt trở lên và đạt huy chương trong cuộc thi cấp quốc gia do Bộ chủ quản tổ chức hoặc phối hợp tổ chức hoặc kỳ thi cấp khu vực hoặc quốc tế của năm học đó do Bộ chủ quản quyết định chọn cử;
(iii) Người học đang học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có kết quả học tập, rèn luyện từ loại Khá trở lên, không bị kỷ luật từ mức khiển trách trở lên trong kỳ xét cấp học bổng.
(2) Mức học bổng đối với đối tượng quy định tại điểm (i) và (ii) thuộc (1):
- Đối với trường chuyên, trường năng khiếu: Mức học bổng cấp cho một học sinh do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định nhưng không thấp hơn ba lần mức học phí làm căn cứ thực hiện miễn học phí đối với trường trung học phổ thông công lập tại địa phương;
- Đối với trung học phổ thông chuyên trong cơ sở giáo dục đại học: Mức học bổng cấp cho một học sinh do hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học quy định nhưng không thấp hơn mức học phí làm căn cứ thực hiện miễn học phí đối với trường trung học phổ thông công lập tại địa phương nơi trường đó đặt trụ sở.
(3) Mức học bổng đối với đối tượng quy định tại điểm (iii) thuộc (1):
- Học bổng loại Khá: Mức học bổng bằng hoặc cao hơn mức trần học phí hiện hành của ngành, chuyên ngành, nghề mà người học đó phải đóng tại trường do hiệu trưởng hoặc giám đốc quy định (sau đây gọi chung là hiệu trưởng) đối với người học có điểm trung bình chung học tập và điểm rèn luyện đều đạt loại Khá trở lên. Đối với các trường tư thục mức học bổng tối thiểu do hiệu trưởng quy định.
Đối với những ngành nghề đào tạo không thu học phí thì áp dụng theo đơn giá được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cho nhóm ngành đào tạo của trường;
- Học bổng loại Giỏi: Mức học bổng cao hơn loại khá do hiệu trưởng quy định đối với người học có điểm trung bình chung học tập đạt loại Giỏi trở lên và điểm rèn luyện đạt loại tốt trở lên;
- Học bổng loại Xuất sắc: Mức học bổng cao hơn loại giỏi do hiệu trưởng quy định đối với người học có điểm trung bình chung học tập và điểm rèn luyện đều đạt loại Xuất sắc;
- Điểm trung bình chung học tập và điểm rèn luyện được xác định theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; trong đó điểm trung bình chung học tập để xét học bổng theo quy định tại Nghị định này được tính từ điểm thi, kiểm tra hết môn học lần thứ nhất.
(4) Nguồn học bổng:
- Đối với trường chuyên, trường năng khiếu, học bổng khuyến khích học tập được bố trí trong dự toán chi ngân sách địa phương để cấp cho tối thiểu 30% số học sinh chuyên của trường.
Đối với trung học phổ thông chuyên trong cơ sở giáo dục đại học, học bổng khuyến khích học tập được bố trí từ nguồn thu hợp pháp của cơ sở giáo dục đại học và từ nguồn thu hợp pháp của trường trung học phổ thông chuyên;
- Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, học bổng khuyến khích học tập được bố trí tối thiểu bằng 8% tổng thu học phí đối với trường công lập và tối thiểu 2% nguồn thu học phí đối với trường tư thục.
(5) Việc xét, cấp học bổng đối với đối tượng quy định tại quy định tại điểm (i) và (ii) thuộc (1):
- Đối với trường chuyên và trường năng khiếu: Hiệu trưởng xác định số suất học bổng cho từng lớp học và căn cứ vào học bổng của năm để cấp cho học sinh theo thứ tự ưu tiên từ giải quốc tế, khu vực quốc tế, quốc gia đến điểm môn chuyên (đối với các trường chuyên) hoặc kết quả học tập (đối với các trường năng khiếu);
- Đối với trung học phổ thông chuyên trong cơ sở giáo dục đại học: Hiệu trưởng xác định số suất học bổng và mức học bổng cho từng khối, lớp học căn cứ vào học bổng của năm để xét, cấp cho học sinh theo thứ tự ưu tiên từ giải quốc tế, khu vực quốc tế, quốc gia đến điểm môn chuyên;
- Học bổng được cấp theo từng học kỳ và cấp 09 tháng trong năm học;
- Ngoài học bổng khuyến khích học tập theo quy định tại Nghị định này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể có các chế độ, chính sách khác đối với học sinh trường chuyên, trường năng khiếu thuộc địa phương hoặc do địa phương quản lý.
(6) Việc xét, cấp học bổng đối với đối tượng quy định tại điểm (iii) thuộc (1):
- Hiệu trưởng căn cứ vào nguồn học bổng khuyến khích học tập xác định số lượng suất học bổng cho từng khóa học, ngành học. Trong trường hợp số lượng người học thuộc diện được xét, cấp học bổng nhiều hơn số suất học bổng thì việc xét, cấp học bổng do hiệu trưởng quyết định;
- Hiệu trưởng căn cứ vào kết quả học tập và rèn luyện của người học thực hiện xét, cấp học bổng theo thứ tự từ loại xuất sắc trở xuống đến hết số suất học bổng đã được xác định;
- Học bổng được cấp theo từng học kỳ với tổng thời gian cấp tối đa 10 tháng trong một năm học. Đối với người học đào tạo theo phương thức tích lũy mô đun hoặc tín chỉ, việc xét, cấp học bổng căn cứ vào số lượng mô đun hoặc tín chỉ tích lũy trong năm học; khối lượng mô đun hoặc tín chỉ tương đương với một học kỳ do cơ sở giáo dục quy định phù hợp với khối lượng học tập tiêu chuẩn của chương trình đào tạo và được công khai trong quy chế học bổng của cơ sở giáo dục.
Người học thuộc diện hưởng học bổng chính sách, trợ cấp xã hội, chính sách ưu đãi thì vẫn được xét, cấp học bổng khuyến khích học tập theo quy định tại Nghị định 66/2026/NĐ-CP.
Xem thêm chi tiết Nghị định 66/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/03/2026.