
Quy định mới về kiểm tra việc nghiệm thu công trình xây dựng tại Nghị định 67/2026 (Hình từ Internet)
Chính phủ ban hành Nghị định 67/2026/NĐ-CP hướng dẫn về thiết kế kỹ thuật tổng thể của dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt quốc gia, tuyến đường sắt địa phương, có hiệu lực từ 04/03/2026.
Tại Điều 31 Nghị định 67/2026/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung Nghị định 06/2021/NĐ-CP hướng dẫn về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng
Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 24 Nghị định 06/2021/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 11 Nghị định 35/2023/NĐ-CP, khoản 1 Điều 123 Nghị định 175/2024/NĐ-CP và khoản 1 Điều 13 Nghị định 144/2025/NĐ-CP) quy định:
Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng:
(i) Hội đồng theo quy định kiểm tra đối với Công trình xây dựng thuộc dự án quan trọng quốc gia; công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp theo quy định tại Phụ lục VIII Nghị định 06/2021/NĐ-CP;
(ii) Cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành kiểm tra đối với công trình do Thủ tướng Chính phủ giao, công trình cấp đặc biệt thuộc trách nhiệm quản lý của bộ theo quy định tại khoản 3 Điều 52 Nghị định 06/2021/NĐ-CP; công trình do bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành quyết định đầu tư thuộc chuyên ngành quản lý; công trình thuộc dự án nhà máy điện hạt nhân, dự án thuộc lĩnh vực hàng không, hàng hải, dự án đường sắt quốc gia; công trình được xây dựng trên địa bàn hành chính từ hai tỉnh trở lên thuộc dự án không phải do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản theo pháp luật về đầu tư công hoặc cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư;
(iii) Cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra các loại công trình xây dựng trên địa bàn thuộc trách nhiệm quản lý theo quy định tại khoản 4 Điều 52 Nghị định 06/2021/NĐ-CP, trừ các công trình quy định tại các trên. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu của cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho cơ quan được giao quản lý xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện;
(iv) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định về thẩm quyền thực hiện kiểm tra đối với các công trình phục vụ quốc phòng, an ninh.
Đồng thời Nghị định 67/2026/NĐ-CP Bãi bỏ khoản 2a, khoản 2d Điều 24 Nghị định 06/2021/NĐ-CP như sau:
2a. Riêng đối với các trường hợp cụ thể quy định tại khoản này, thẩm quyền kiểm tra đối với công trình quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều này không thực hiện theo khoản 2 Điều này mà được quy định như sau:
a) Đối với công trình do Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành quyết định đầu tư thuộc chuyên ngành quản lý thì cơ quan chuyên môn về xây dựng trực thuộc Bộ này thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu;
b) Cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Giao thông vận tải kiểm tra đối với các công trình thuộc lĩnh vực hàng không, đường sắt và hàng hải; trừ công trình quy định tại điểm đ khoản này;
…
2d. Đối với dự án đầu tư xây dựng có công trình cấp I, chủ đầu tư được gửi thông báo khởi công xây dựng công trình hoặc hồ sơ đề nghị kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng đến cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Quản lý công trình xây dựng chuyên ngành để được kiểm tra. Chủ đầu tư chỉ được đề nghị một cơ quan chuyên môn về xây dựng thực hiện kiểm tra đối với các công trình thuộc dự án.”.
Chi phí sửa chữa trên 500 triệu phải lập báo cáo để phê duyệt
Nghị định 67/2026/NĐ-CP sửa đổi điểm b khoản 4 Điều 35 Nghị định 06/2021/NĐ-CP quy định về chi phí sửa chữa công trình, thiết bị công trình như sau:
Đối với trường hợp sửa chữa công trình, thiết bị công trình có chi phí thực hiện từ 500 triệu đồng trở lên sử dụng nguồn vốn nhà nước ngoài đầu tư công và vốn ngân sách nhà nước chi thường xuyên thì chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình tổ chức lập, trình thẩm định và phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật hoặc dự án đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng công trình.