
Đề xuất giảm hàm lượng Etanol trong xăng E10 (Hình từ Internet)
Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Thông tư ban hành Sửa đổi 01:2026 QCVN 01:2022/BKHCN Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng, nhiên liệu điêzen và nhiên liệu sinh học.
Theo đó, Đề xuất giảm hàm lượng Etanol trong xăng E10, Cụ thể sửa đổi mục 2.1.3 về Xăng E10 như sau:
|
2.1.3. Xăng E10 Hàm lượng etanol: từ 9 đến 10 % thể tích Hàm lượng oxy: max. 3,7 % khối lượng
|
2.1.3. Xăng E10 Hàm lượng etanol: từ 8 % đến 10 % thể tích Hàm lượng oxy: max. 4,0 % khối lượng |
Việc quy định khoảng giới hạn hàm lượng etanol từ 9 % đến 10 % thể tích và hàm lượng oxy tối đa 3,7 % khối lượng tại QCVN 01:2022/BKHCN) với biên độ hẹp như vậy đang tạo ra những khó khăn trong công tác pha chế, hạn chế nguồn cung nhập khẩu và làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh cũng như an ninh năng lượng quốc gia.
Tham khảo một số quốc gia khác cũng quy định xăng E10 có hàm lượng etanol từ khoảng 8 % đến 12 % thể tích (tiêu chuẩn Trung Quốc) và hàm lượng oxy lên đến 4,0 % khối lượng (tiêu chuẩn Philippin).
|
|
Australia
|
China GB 18351:2017 |
Ấn Độ IS 2796:2017 |
Nhật Bản JIS K 2202:2023 |
|
Etanol, % tt |
Max 10 |
8,0 – 12,0 |
9,5 – 10,0 |
Max 10 |
|
Oxy, % kl |
3,9 |
- |
3,7 |
3,7 |
|
Oxygenat, % tt |
- |
0,5 %kl |
- |
- |
|
|
EN 228:2012 + A1:2017 |
Canada CAN/CGSB- 3.511-2021 |
US CaRFG Phase 3 |
Philippin PNS/DOE QS 008:2018 |
|
Etanol, % tt |
Max 10,0 |
1,0 – 10,0
|
Max 10 |
9,0 – 10,0 |
|
Oxy, % kl |
3,7 |
Báo cáo |
3,7 |
4,0 |
|
Oxygenat, % tt |
- |
- |
- |
- |
Đánh giá tác động của dự kiến của Sửa đổi QCVN về Xăng, nhiên liệu điêzen và nhiên liệu sinh học
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, Những khó khăn, vướng mắc khi triển khai phối trộn xăng E10 được Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Quốc gia nêu tại Công văn tương ứng số 476/CNNL-CNK&LHD ngày 19/01/2026 và Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam nêu tại Công văn số 2226/PLX-KTXD. Cụ thể một số nội dung như sau:
Khó khăn trong công tác pha chế: Pha chế Xăng E10 tại quy mô Phòng thử nghiệm, với tỷ lệ 9,5 % thể tích Etanol nhiên liệu, từ 02 nguồn xăng nền (nhà máy lọc dầu trong nước và nhập khẩu), thì Xăng E10 thành phẩm sẽ có hàm lượng oxy tăng thêm khoảng 3,6% khối lượng so với hàm lượng oxy của xăng nền, khi đó:
- Các mẫu Xăng E10 pha từ xăng nền nguồn từ các nhà máy lọc dầu trong nước (không có oxy): hàm lượng oxy đáp ứng được quy định của QCVN 01:2022/BKHCN “max 3,7% khối lượng”, nhưng tiệm cận ở mức giới hạn cho phép, gây rủi ro trong quá trình giao nhận, lưu thông hàng hóa trên thị trường.
- Các mẫu Xăng E10 pha từ xăng nền nguồn nhập khẩu (có sẵn hàm lượng oxy từ 1 - 1,5% khối lượng): hàm lượng oxy đều vượt giới hạn 3,7% khối lượng.
Như vậy, để đáp ứng yêu cầu “Hàm lượng Etanol từ 9 đến 10% thể tích” và “Hàm lượng oxy max 3,7% khối lượng” thì điều kiện bắt buộc là xăng nền phải “không có oxy”. Hiện tại, nguồn xăng nền từ các nhà máy lọc dầu trong nước đều đáp ứng được, nhưng xăng nền đang nhập khẩu về Việt Nam đều không đáp ứng được. Trong khi, hiện nay sản lượng của 02 Nhà máy lọc dầu trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 65% nhu cầu xăng toàn quốc, 35% còn lại phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Khó khăn trong công tác tạo nguồn: Trong bối cảnh Chính phủ dự kiến sẽ triển khai xăng E10 trên toàn quốc và không còn xăng khoáng truyền thống, từ 01/01/2026, nếu duy trì các yêu cầu kỹ thuật của xăng2 E10 như hiện hành (“Hàm lượng Etanol từ 9 đến 10% thể tích” và “Hàm lượng oxy max 3,7% khối lượng”), thì sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, trong đó có Petrolimex, cụ thể như sau:
*Hạn chế nguồn cung cấp
Hiện tại, các doanh nghiệp chủ yếu nhập khẩu xăng dầu từ các nước có ký Hiệp định thương mại với Việt Nam để hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt - 0% (hàng C/O formD). Nguồn cung xăng “không có oxy” là cố định và chỉ cung cấp cho 1 số nước nhất định như Nhật, Úc. Nếu triển khai Xăng E10 thì nguồn xăng nền nhập khẩu phải là loại “không có oxy” thì sẽ phải cạnh tranh trực tiếp với các nước này. Lúc này nguồn cung xăng trên thị trường sẽ càng bị thu hẹp, đặc biệt đối với hàng có C/O form D. Ngoài ra, trong những thời điểm khan hiếm do yếu tố địa, chính trị (như năm 2022), phát sinh nhu cầu cấp bách, việc nhập khẩu xăng dầu form D càng trở lên khó khăn. Khiđó nếu phải bù đắp từ các nguồn hàng không có form D thì sẽ phát sinh chi phí thuế nhập khẩu.
* Chi phí nhập tạo nguồn tăng cao Theo tìm hiểu của Petrolimex, xăng “không có oxy” hiện có mức premium cao hơn so với xăng “có oxy”. Khi đó, để nhập khẩu xăng “không có oxy”, Việt Nam sẽ phải chịu mức giá bị đẩy lên cao hơn, do nhu cầu tăng trong khi nguồn cung không đổi. Thậm chí sẽ có những thời điểm khi nguồn hàng form D khan hiếm hoặc Nhà máy lọc dầu Việt Nam bảo dưỡng, các đầu mối nhập khẩu có thể phải chấp nhận nhập khẩu nguồn hàng không phải form D và có mức thuế nhập khẩu cao hơn rất nhiều và đẩy chi phí giá thành lên cao. Qua trao đổi với các nhà cung cấp hàng form D, mức chênh premium của hàng xăng nền “không có oxy” với xăng “có oxy” khoảng 600 đ/l. Với sản lượng ước tính lên đến 400.000 m3/ tháng, Petrolimex sẽ phải chịu chi phí phát sinh khoảng 2.900 tỷ đồng/năm, đây là chi phí phát sinh cao, không đáng có và ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kinh doanh của Tập đoàn Petrolimex nói riêng, ảnh hưởng đến nền kinh tế đất nước nói chung.
Ngoài ra, điều chỉnh một số nội dung quy định trong quy chuẩn mà có thể ảnh hưởng trong quá trình thực thi, như quy định về thời gian mùa đông trong năm đối với chỉ tiêu điểm chảy (điểm đông đặc) của nhiên liệu điêzen.
Dự thảo Sửa đổi 01:2026 QCVN 01:2022/BKHCN sửa đổi hàm lượng oxy, hàm lượng etanol trong xăng E10, các hợp chất oxygenat và cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Các chỉ tiêu kỹ thuật chỉnh sửa được xây dựng trên cơ sở tham khảo các tiêu chuẩn nước ngoài,
tiêu chuẩn khu vực, tài liệu Hiến chương nhiên liệu thế giới, nên đảm bảo tính phù hợp với thông lệ quốc tế và giải quyết những vướng mắc khó khăn trong sản xuất kinh doanh xăng E10, như giảm chi phí phát sinh, ví dụ tính riêng một doanh nghiệp như Petrolimex ước tính 2.900 tỷ đồng/năm.
Dự thảo Sửa đổi 01:2026 QCVN 01:2022/BKHCN sẽ có tác động tích cực trong việc quản lý chất lượng xăng E10, đáp ứng kịp thời các chỉ đạo của Chính phủ nêu tại Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 26/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh việc sản xuất, phối trộn, phân phối và sử dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam và Thông tư 50/2025/TT-BCT ngày 7/11/2025 quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống.
Xem thêm tại Dự thảo