Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai có tác dụng gì?

20/02/2026 14:30 PM

Nội dung bài viết giải đáp về tác dụng của hệ thống thông tin quốc gia về đất đai năm 2026.

Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai có tác dụng gì? (Hình ảnh từ Internet)

Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai có tác dụng gì? (Hình ảnh từ Internet)

Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai có tác dụng gì?

Căn cứ theo khoản 23 Điều 3 Luật Đất đai 2024 thì hệ thống thông tin quốc gia về đất đai là hệ thống tổng hợp các yếu tố hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, phần mềm, dữ liệu được xây dựng thành một hệ thống tập trung, thống nhất trên phạm vi cả nước để quản lý, vận hành, cập nhật, khai thác thông tin đất đai.

Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai được xây dựng phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai, cải cách hành chính, chuyển đổi số trong lĩnh vực đất đai; kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của các Bộ, ngành, địa phương tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số (Theo khoản 2 Điều 163 Luật Đất đai 2024).

Như vậy, có thể thấy Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai được xây dựng tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương, nhằm trợ giúp và đáp ứng những nhu cầu cấp thiết cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, đồng thời phục vụ nhu cầu khai thác sử dụng thông tin đất đai của Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan và của cả cộng đồng xã hội.

Quy trình khai thác thông tin từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trong hệ thống thông tin quốc gia về đất đai

Theo khoản 23 Điều 3 Luật Đất đai 2024 thì Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai là hệ thống tổng hợp các yếu tố hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, phần mềm, dữ liệu được xây dựng thành một hệ thống tập trung, thống nhất trên phạm vi cả nước để quản lý, vận hành, cập nhật, khai thác thông tin đất đai.

Đồng thời, theo khoản 14 Điều 3 Luật Đất đai 2024 thì Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là tập hợp các cơ sở dữ liệu đất đai trong đó dữ liệu được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, chia sẻ, quản lý và cập nhật thông qua phương tiện điện tử.

Việc khai thác thông tin từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai (CSDLQG về đất đai) được thực hiện theo khoản 5 Điều 166 Luật Đất đai 2024 như sau:

(1) Dữ liệu trong CSDLQG về đất đai có giá trị sử dụng chính thức, tương đương văn bản giấy được cơ quan có thẩm quyền cung cấp;

(2) Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa phương, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được khai thác thông tin trong CSDLQG về đất đai thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình;

(3) Người sử dụng đất được khai thác thông tin của mình trong CSDLQG về đất đai;

(4) Tổ chức, cá nhân không thuộc quy định tại (2) và (3) có nhu cầu khai thác thông tin trong CSDLQG về đất đai phải được sự đồng ý của cơ quan quản lý CSDLQG về đất đai;

(5) Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân được tiếp cận, khai thác thông tin, dữ liệu về đất đai theo quy định của pháp luật. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân phản hồi, cung cấp, bổ sung thông tin cho CSDLQG về đất đai;

(6) Việc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu trong CSDLQG về đất đai phải trả phí khai thác, sử dụng tài liệu đất đai và giá cung cấp dịch vụ thông tin, dữ liệu về đất đai;

(7)  Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai từ Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định giá sản phẩm, dịch vụ gia tăng sử dụng thông tin từ cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin đất đai.

Như vậy, việc khai thác thông tin, dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trong Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai phải đảm bảo các yêu cầu như trên. Một điểm cần lưu ý là không mặc nhiên tất cả mọi người đều được khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai mà cần có sự đồng ý của cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Ngoài Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thì Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai còn thành phần nào?

Tại khoản 3 Điều 163 Luật Đất đai 2024 thì Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai bao gồm các thành phần cơ bản sau đây:

- Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin;

- Phần mềm của Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai;

- Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Có thể thấy, ngoài Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thì Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai còn có thành phần Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin và Phần mềm của Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai.

Theo đó, căn cứ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 164 Luật Đất đai 2024  thì Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin và Phần mềm của Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai được quy định như sau;

- Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin được xây dựng ở trung ương và địa phương, bao gồm tập hợp thiết bị máy chủ, máy trạm, thiết bị kết nối mạng, hệ thống đường truyền, thiết bị bảo đảm an ninh, an toàn, thiết bị lưu trữ, thiết bị ngoại vi và thiết bị khác.

- Phần mềm của Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai bao gồm các phần mềm hệ thống, phần mềm tiện ích và phần mềm ứng dụng phục vụ quản lý, vận hành, cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Như vậy, trong Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai thì ngoài Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai còn có 02 thành phần quan trọng là Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin và Phần mềm của Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai.

Chia sẻ bài viết lên facebook 5

Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn
Đơn vị chủ quản: Công ty cổ phần LawSoft. Giấy phép số: 32/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 15/05/2019 Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3935 2079