
Năm 2026, nhà giáo có thể làm việc đến 71,5 tuổi nghỉ hưu trong một số trường hợp (Hình ảnh từ Internet)
Theo ĐIều 169 Bộ luật Lao động 2019 quy định về độ tuổi nghỉ hưu của người lao động như sau:
(1) Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu.
(2) Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.
Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ.
(3) Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại (2) tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
(4) Người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại khoản 2 Điều này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Như vậy, tuổi nghỉ hưu của lao động nam là 60 tuổi, lao động nữ là 55 tuổi. Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 4 tháng đối với lao động nữ.
Và Kể từ ngày Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực (01/01/2021), cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với lao động nam và 4 tháng đối với lao động nữ. Lộ trình tăng tuổi hưu kéo dài cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.
Theo ĐIều 27 Luật Nhà giáo 2025 thì chế độ nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với nhà giáo trong cơ sở giáo dục công lập
- Đối tượng có thể hưởng chế độ nghỉ hưu ở tuổi cao hơn bao gồm nhà giáo có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có trình độ tiến sĩ và nhà giáo làm việc trong ngành, lĩnh vực chuyên sâu đặc thù.
- Chế độ nghỉ hưu ở tuổi cao hơn được thực hiện khi cơ sở giáo dục có nhu cầu; nhà giáo có đủ sức khỏe, tự nguyện và đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện của cơ sở giáo dục.
- Thời gian nghỉ hưu ở tuổi cao hơn được quy định như sau:
+ Không quá 05 tuổi đối với nhà giáo có trình độ tiến sĩ;
+ Không quá 07 tuổi đối với nhà giáo có chức danh phó giáo sư;
+ Không quá 10 tuổi đối với nhà giáo có chức danh giáo sư.
- Trong thời gian thực hiện chế độ nghỉ hưu ở tuổi cao hơn theo quy định tại khoản 3 Điều này, nhà giáo không giữ chức vụ quản lý.
- Chính phủ quy định chi tiết quy trình, thủ tục nghỉ hưu ở tuổi cao hơn; việc nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với nhà giáo ở ngành, lĩnh vực chuyên sâu đặc thù.
Như vậy, Luật Nhà giáo quy định đối tượng có thể hưởng chế độ nghỉ hưu ở tuổi cao hơn tuổi nghỉ hưu quy định bao gồm nhà giáo có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có trình độ tiến sĩ và nhà giáo làm việc trong ngành, lĩnh vực chuyên sâu đặc thù.
Cụ thể, thời gian nghỉ hưu ở tuổi cao hơn được quy định tùy vào chức danh, trình độ như sau:
- Nhà giáo có trình độ tiến sĩ được nghỉ hưu ở tuổi cao hơn không quá 5 tuổi; tức là nhà giáo nam có thể nghỉ hưu khi đủ 66,5 tuổi, nhà giáo nữ nghỉ hưu ở tuổi 62.
- Nhà giáo có chức danh phó giáo sư được nghỉ hưu ở tuổi cao hơn không quá 7 tuổi, tức là nhà giáo nam có thể nghỉ hưu khi đủ 68,5 tuổi, nhà giáo nữ nghỉ hưu ở tuổi 64.
- Nhà giáo có chức danh giáo sư được nghỉ hưu ở tuổi cao hơn không quá 10 tuổi; tức là nhà giáo nam có thể nghỉ hưu khi đủ 71,5 tuổi, nhà giáo nữ nghỉ hưu ở tuổi 67.
* Lưu ý: Chế độ nghỉ hưu ở tuổi cao hơn theo quy định trên chỉ được thực hiện khi cơ sở giáo dục có nhu cầu; nhà giáo có đủ sức khỏe, tự nguyện và đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện của cơ sở giáo dục.