Cụ thể, các chính sách mới nổi bật có hiệu lực từ cuối tháng 01/2026 gồm:
11 cơ quan đã ký Thông tư liên tịch 11/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC- BCA-BQP-BTP-BTC-BCT-BXD-BNN&MT- KTNN-TTCP hướng dẫn việc xác định lãng phí để áp dụng trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm liên quan đến lãng phí theo quy định của Bộ luật Hình sự, trong đó có các dấu hiệu vi phạm về đất đai.
Thông tư liên tịch 11/2025 có hiệu lực từ ngày 25/01/2026.
Theo Điều 8 của Thông tư này, những dấu hiệu vi phạm trong quản lý, khai thác, sử dụng đất đai và các tài nguyên khác có khả năng gây lãng phí, bao gồm:
Quy hoạch đất đai và quy hoạch các tài nguyên khác không đúng pháp luật gây lãng phí; Gây ô nhiễm, hủy hoại tài nguyên, năng lượng quốc gia gây lãng phí; Giao đất, giao rừng, cho thuê đất, cho thuê rừng, thu hồi đất, thu hồi rừng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, sử dụng rừng không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền, không phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, sử dụng rừng đã được phê duyệt.
Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước; không thực hiện đấu giá, đấu thầu theo quy định đối với trường hợp giao đất, cho thuê đất phải đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; chậm thực hiện các thủ tục theo quy định để xác định giá đất, dẫn đến chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước gây lãng phí;
Sử dụng đất không đúng mục đích đã được nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; đất không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư; không thực hiện đúng thời hạn trả lại đất theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây lãng phí;
Cố ý trì hoãn, chậm giải phóng mặt bằng, triển khai thực hiện dự án so với tiến độ đã được phê duyệt; thực hiện dự án, khởi công công trình trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư không đúng quy định gây lãng phí;
Quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng nhà ở không phù hợp quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị và nông thôn, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt gây lãng phí;
Cấp phép, thăm dò, khai thác tài nguyên không đúng quy định, thẩm quyền, đối tượng, không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và kết quả phê duyệt trữ lượng của cơ quan có thẩm quyền; tổ chức hoạt động khoáng sản không đúng với nội dung giấy phép hoạt động khoáng sản đã cấp; khai thác, chế biến tài nguyên gây ô nhiễm và suy thoái nguồn nước, môi trường gây lãng phí.
Thông tư 115/2025/TT-BTC sửa đổi Thông tư 118/2020/TT-BTC hướng dẫn nội dung về chào bán, phát hành chứng khoán, chào mua công khai, mua lại cổ phiếu, đăng ký công ty đại chúng và hủy tư cách công ty đại chúng do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành, có hiệu lực từ ngày 28/1/2026. Trong đó quy định về báo cáo và công bố thông tin bán cổ phiếu quỹ.
Cụ thể, công ty đại chúng mua lại cổ phiếu của chính mình trong các trường hợp theo quy định tại khoản 6 và điểm b, điểm c khoản 7 Điều 36 Luật Chứng khoán thực hiện bán cổ phiếu như sau:
(1) Công ty đại chúng được bán cổ phiếu quỹ sau ít nhất 24 giờ kể từ khi gửi Báo cáo kết quả giao dịch mua lại cổ phiếu, Báo cáo kết quả phát hành cổ phiếu để trả cổ tức, phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu đến Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và công bố thông tin ra công chúng.
(2) Công ty đại chúng phải hoàn thành việc bán cổ phiếu quỹ trong vòng 20 ngày làm việc kể từ ngày báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và công bố thông tin ra công chúng về việc bán cổ phiếu quỹ theo Mẫu tại Phụ lục số 36 ban hành kèm theo Thông tư 118.
(3) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kết thúc giao dịch bán cổ phiếu quỹ theo quy định tại khoản (1), công ty đại chúng phải gửi Báo cáo kết quả giao dịch bán cổ phiếu quỹ cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và công bố thông tin ra công chúng theo Mẫu tại Phụ lục số 39 ban hành kèm theo Thông tư 118.
Thông tư 45/2025/TT-BKHCN quy định hoạt động thống kê ngành khoa học và công nghệ, có hiệu lực từ ngày 30/1/2026.
Trong đó quy định hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ như sau:
(1) Hệ thống chỉ liệu thống kê ngành khoa học và công nghệ là tập hợp các chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình, nguồn lực, kết quả và hiệu quả ngành khoa học và công nghệ, được ban hành để thống nhất trong thu thập và công bố số liệu thống kê ngành khoa học và công nghệ.
(2) Các chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ được xây dựng trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và phản ánh các lĩnh vực chủ yếu sau đây:
- Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
- Ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và doanh nghiệp;
- Sở hữu trí tuệ;
- Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng;
- Năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân;
- Bưu chính, viễn thông;
- Chuyển đổi số;
- Công nghiệp công nghệ số;
- Tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế.
(3) Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 45, bao gồm:
- Danh mục chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ;
- Nội dung chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ.
(4) Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ được rà soát, cập nhật, điều chỉnh khi có thay đổi về yêu cầu quản lý, thực tiễn phát triển ngành hoặc chuẩn mực thống kê quốc tế, bảo đảm phù hợp với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các quy định của pháp luật có liên quan.
Từ ngày 25/1/2026, Nghị quyết 262/2025/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035, có hiệu lực thi hành.
Trong đó, kinh phí thực hiện Chương trình như sau:
(1) Tổng nguồn vốn thực hiện giai đoạn 2026 - 2030: 88.635 tỷ đồng, trong đó:
- Vốn ngân sách Trung ương: 68.000 tỷ đồng, bao gồm:
+ Vốn đầu tư công: 39.200 tỷ đồng;
+ Kinh phí thường xuyên: 28.800 tỷ đồng.
- Vốn ngân sách địa phương: 20.041 tỷ đồng, bao gồm:
+ Vốn đầu tư công: 8.492 tỷ đồng;
+ Kinh phí thường xuyên: 11.549 tỷ đồng.
- Nguồn vốn khác: Dự kiến 594 tỷ đồng.
(2) Căn cứ kết quả thực hiện của Chương trình giai đoạn 2026 - 2030, Chính phủ trình Quốc hội quyết định nguồn vốn thực hiện Chương trình giai đoạn 2031 - 2035.
Nội dung đề cập tại Nghị quyết 247/2025/QH15 về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, có hiệu lực từ 24/1/2026.
Cụ thể, mộ trong những nhiệm vụ năm 2026 là tổng kết, đánh giá việc thực hiện và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, trình Quốc hội xem xét, thông qua đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI. Trong năm 2025, xem xét sửa đổi ngay một số điều của Luật để góp phần khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; đồng thời sửa đổi quy định về lộ trình, thời gian áp dụng đối với chính sách về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình, cá nhân cho phù hợp với yêu cầu thực tế.
Trong năm 2026, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan đến thuế, phí bảo vệ môi trường. Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan trong các năm tiếp theo, bảo đảm thực hiện hiệu quả mục tiêu chính sách về bảo vệ môi trường.
Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định, hướng dẫn thực hiện đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và kiểm kê khí nhà kính của các ngành, lĩnh vực đối với các cơ sở, doanh nghiệp; rà soát, cập nhật kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính cho từng ngành, lĩnh vực phù hợp với Đóng góp do quốc gia tự quyết định giai đoạn 2026 - 2035.