
Nghị quyết 115 hướng dẫn Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (Hình từ internet)
Ngày 24/12/2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Phiên họp thứ 52 thông qua Nghị quyết 115/2025/UBTVQH15 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về giám sát văn bản quy phạm pháp luật.
![]() |
Nghị quyết 115/2025/UBTVQH15 |
Theo đó, Nghị quyết này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về trình tự, thủ tục và trách nhiệm của Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tổ chức thực hiện hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Điều 12, điểm b khoản 1 Điều 14, điểm b khoản 1 Điều 17, điểm b khoản 1 Điều 20, điểm b khoản 1 Điều 25, điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 28, điểm b khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 31, điểm b khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 34, điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 36, các điều 39, 40, 41 và 42 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
Việc giám sát đối với văn bản quy phạm pháp luật là nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 17 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định của Nghị quyết 113/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Quốc hội.
Đối tượng áp dụng bao gồm:
- Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân.
- Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật.
Nguyên tắc giám sát văn bản quy phạm pháp luật được quy định như sau:
- Tuân thủ các nguyên tắc hoạt động giám sát quy định tại Điều 3 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
- Được tiến hành thường xuyên.
- Chủ động giám sát ngay từ khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, bảo đảm tính kịp thời, khả thi.
- Bảo đảm kết hợp giữa giám sát văn bản quy phạm pháp luật với giám sát việc tổ chức thực hiện pháp luật.
- Đề cao sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giám sát; chú trọng công tác theo dõi, đôn đốc thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị sau giám sát.
Mục đích giám sát văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:
- Giám sát văn bản quy phạm pháp luật gắn với việc nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính hợp hiến, tỉnh hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với thực tiễn, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật.
- Phát hiện nội dung trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc không còn phù hợp, văn bản quy phạm pháp luật ban hành không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức để tự mình hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản; kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý người vi phạm.
- Phát hiện việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên để kịp thời đôn đốc, yêu cầu cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền được giao ban hành văn bản.
Xem chi tiết nội dung tại Nghị quyết 115/2025/UBTVQH15 có hiệu lực từ ngày 1/3/2026.