
Thời hạn nộp báo cáo tài chính mới nhất đối với doanh nghiệp nhà nước từ 13/12/2026 (Hình từ Internet)
Tổng Kiểm toán Nhà nước ban hành Thông tư 13/2025/TT-KTNN quy định trách nhiệm báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách, dự toán kinh phí của các đơn vị được kiểm toán.
Tại Điều 4 Thông tư quy định việc gửi báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách như sau
1. Bộ Tài chính, đơn vị dự toán cấp I thuộc ngân sách trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm gửi báo cáo về Kiểm toán nhà nước theo quy định tại Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15.
2. Các doanh nghiệp nhà nước gửi báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước (nếu có) thuộc phạm vi quản lý về Kiểm toán nhà nước trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
3. Các trường hợp pháp luật liên quan không quy định thời hạn gửi báo cáo, các đơn vị có trách nhiệm gửi về Kiểm toán nhà nước chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ thời điểm lập và phát hành các báo cáo theo quy định.
Như vậy, doanh nghiệp nhà nước nộp là 90 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
Xem thêm tại Thông tư 13/2025/TT-KTNN.
Chính phủ ban hành Nghị định 365/2025/NĐ-CP giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, có hiệu lực từ 31/12/2025
Theo Điều 20 Nghị định 365/2025/NĐ-CP dấu hiệu mất an toàn tài chính của doanh nghiệp nhà nước được quy định như sau:
(1) Dấu hiệu mất an toàn tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
(i) Đối với doanh nghiệp đang trong giai đoạn lỗ kế hoạch: Có số lỗ phát sinh năm báo cáo lớn hơn 30% so với mức lỗ kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
(ii) Đối với doanh nghiệp sau giai đoạn lỗ kế hoạch thuộc một trong các trường hợp sau:
- Có số lỗ phát sinh trong năm báo cáo từ 30% vốn đầu tư của chủ sở hữu trở lên hoặc số lỗ lũy kế lớn hơn 50% vốn đầu tư của chủ sở hữu;
- Có hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu vượt quá mức an toàn theo quy định của cơ quan đại diện chủ sở hữu (nếu có).
(2) Dấu hiệu khác cơ quan đại diện chủ sở hữu cần kết hợp xem xét khi xác định dấu hiệu mất an toàn tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
(i) Đối với doanh nghiệp đang trong giai đoạn lỗ kế hoạch: Có số lỗ thực tế lớn hơn số lỗ kế hoạch trong 2 năm liền.
(ii) Đối với doanh nghiệp sau giai đoạn lỗ kế hoạch thuộc một trong các trường hợp sau:
- Lỗ hai năm liên tiếp trở lên;
- Doanh thu thuần hoặc lợi nhuận gộp giảm liên tiếp 2 năm trở lên;
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh âm liên tiếp 2 năm trở lên;
- Không tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính, hoặc có ý kiến kiểm toán trái ngược, từ chối đưa ra ý kiến trong Báo cáo kiểm toán, hoặc ý kiến kiểm toán ngoại trừ trong Báo cáo kiểm toán trong 2 năm liền về cùng một vấn đề có ảnh hưởng trọng yếu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; có ý kiến về vấn đề cần nhấn mạnh hoặc các dấu hiệu, sự kiện, xét riêng lẻ hay kết hợp lại, có thể dẫn đến nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp trong 2 năm liền trong Báo cáo kiểm toán.
(3) Các dấu hiệu quy định tại (1) và (2) là dấu hiệu cảnh báo khả năng đặt một doanh nghiệp vào tình trạng giám sát tài chính đặc biệt. Khi doanh nghiệp có một trong các dấu hiệu này, cơ quan đại diện chủ sở hữu chủ trì, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp, xem xét dấu hiệu mất an toàn tài chính để quyết định đưa doanh nghiệp vào diện giám sát tài chính đặc biệt hay tiếp tục thực hiện giám sát, kiểm tra theo quy định tại Điều 14 đến Điều 18 Nghị định 365/2025/NĐ-CP.