
Văn phòng đăng ký đất đai thuộc cấp tỉnh có phải quy định mới? (Hình từ Internet)
Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Văn bản hợp nhất 90/VBHN-BNNMT năm 2025 hợp nhất Nghị định hướng dẫn Luật Đất đai theo đó hợp nhất các Nghị định:
Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2024, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Nghị định số 175/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng, có hiệu lực kể từ ngày 30 tháng 12 năm 2024;
Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
Một nội dung cụ thể đáng lưu ý tại Văn bản hợp nhất 90/VBHN-BNNMT là khoản 1 Điều 13 quy định Văn phòng đăng ký đất đai thuộc cấp tỉnh như sau:
Điều 13. Văn phòng đăng ký đất đai
1. Vị trí và chức năng
Văn phòng đăng ký đất đai là tổ chức đăng ký đất đai, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh; có chức năng thực hiện đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận), đo đạc, chỉnh lý, lập bản đồ địa chính, xây dựng, quản lý, vận hành và khai thác hệ thống thông tin đất đai, cung cấp dịch vụ công về đất đai và hỗ trợ công tác quản lý nhà nước khác về đất đai trên địa bàn cấp tỉnh.
Đây là nội dung được quy định tại Nghị định 102/2024/NĐ-CP đã có hiệu lực từ 01/7/2024 (chưa được sổ đổi bổ sung).
Cần lưu ý văn bản hợp nhất là văn bản được hình thành sau khi hợp nhất văn bản sửa đổi, bổ sung với văn bản được sửa đổi, bổ sung. (Căn cứ Pháp lệnh 01/2012/UBTVQH13 hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành)
Như vậy, Văn phòng đăng ký đất đai thuộc cấp tỉnh căn cứ khoản 1 Điều 13 Văn bản hợp nhất 90/VBHN-BNNMT không phải là quy định mới.
Ngày 07/10/2025, Đảng uỷ Cục Quản lý đất đai có Tờ trình 70-TTr/ĐU về tình hình hệ thống Văn phòng đăng ký đất đai ở địa phương và định hướng, giải pháp kiện toàn theo chính quyền 2 cấp báo cáo Ban Thường vụ Đảng uỷ Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Tại Tờ trình, đề xuất Phòng Kinh tế cấp xã thực hiện nhiệm vụ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cụ thể như sau:
- Chuyển giao thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận, xác nhận thay đổi trên Giấy chứng nhận đối với trường hợp đăng ký biến động thuộc thẩm quyền của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được ủy quyền cho cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp xã thực hiện thẩm quyền này;
- Chuyển chức năng, nhiệm vụ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cho cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp xã (Phòng Kinh tế Phòng Kinh tế Hạ tầng) để thống nhất một cơ quan duy nhất có trách nhiệm giải quyết thủ tục về đất đai cho người dân và doanh nghiệp. Căn cứ vào quy mô dân số, quy mô nền kinh tế của từng cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định bố trí tối thiểu từ 02 cán bộ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai về cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp xã.
…
Xem chi tiết tại Tờ trình 70-TTr/ĐU ngày 07/10/2025.