
So sánh phương thức kiểm tra thực phẩm nhập khẩu theo Nghị định 46/2026 (Hình từ Internet)
Chính phủ ban hành Nghị định 46/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm, có hiệu lực từ 26/01/2026
Theo đó, Nghị định Sửa đổi phương thức kiểm tra an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu như sau:
|
|
||
|
Phương thức kiểm tra |
Việc kiểm tra về an toàn thực phẩm nhập khẩu được thực hiện theo một trong các phương thức sau đây:
- Phương thức kiểm tra giảm, theo đó kiểm tra hồ sơ tối đa 5% trên tổng số lô hàng nhập khẩu trong vòng 01 năm do cơ quan hải quan lựa chọn ngẫu nhiên.
- Phương thức kiểm tra thông thường, theo đó chỉ kiểm tra hồ sơ của lô hàng nhập khẩu.
- Phương thức kiểm tra chặt, theo đó kiểm tra hồ sơ kết hợp lấy mẫu kiểm nghiệm. |
Phương thức kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm nhập khẩu bao gồm:
- Kiểm tra giảm: là việc thực hiện kiểm tra hồ sơ đối với mặt hàng nhập khẩu.
- Kiểm tra thông thường: thực hiện kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực trạng hàng hóa và lấy mẫu kiểm nghiệm chỉ tiêu chất lượng, an toàn thực phẩm lựa chọn từ các nhóm chỉ tiêu chất lượng, an toàn thực phẩm trong hồ sơ.
- Kiểm tra chặt: thực hiện kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực trạng hàng hóa và lấy mẫu kiểm nghiệm các nhóm chỉ tiêu chất lượng, an toàn thực phẩm theo hồ sơ công bố và các chỉ tiêu khác không đạt hoặc có cảnh báo theo quy định tại khoản (nếu có).
Căn cứ vào bản chất thành phần cấu tạo, lịch sử chất lượng của mặt hàng, quá trình vận chuyển, bảo quản của mặt hàng, lịch sử nhập khẩu của chủ hàng, xuất xứ của mặt hàng, hệ thống quản lý chất lượng đang áp dụng của mặt hàng, cơ quan kiểm tra nhà nước lựa chọn chỉ tiêu chất lượng, an toàn thực phẩm từ các nhóm chỉ tiêu chất lượng, an toàn thực phẩm trong hồ sơ.
|
|
Áp dụng phương thức kiểm tra |
- Kiểm tra giảm áp dụng đối với lô hàng, mặt hàng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Đã được xác nhận đạt yêu cầu về an toàn thực phẩm bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước đã ký kết Điều ước quốc tế thừa nhận lẫn nhau trong hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm mà Việt Nam là thành viên; có kết quả kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu đối với lô hàng, mặt hàng phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam;
+ Đã có 03 (ba) làn liên tiếp trong vòng 12 tháng đạt yêu cầu nhập khẩu theo phương thức kiểm tra thông thường;
+ Được sản xuất trong các cơ sở áp dụng một trong các hệ thống quản lý chất lượng GMP, HACCP, ISO 22000, IFS, BRC, FSSC 22000 hoặc tương đương.
- Kiểm tra thông thường áp dụng đối với tất cả mặt hàng của lô hàng nhập khẩu, trừ trường hợp quy kiểm tra chặt hoặc kiểm tra giảm.
- Kiểm tra chặt áp dụng đối với lô hàng, mặt hàng nhập khẩu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Lô hàng, mặt hàng không đạt yêu cầu nhập khẩu tại lần kiểm tra trước đó;
+ Lô hàng, mặt hàng không đạt yêu cầu trong các lần thanh tra, kiểm tra (nếu có);
+ Có cảnh báo của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài hoặc của nhà sản xuất.
- Chuyển từ phương thức kiểm tra chặt sang phương thức kiểm tra thông thường trong các trường hợp sau đây:
+ Đối với trường hợp quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều này, nếu sau khi áp dụng phương thức kiểm tra chặt 03 (ba) lần liên tiếp mà kết quả đạt yêu cầu nhập khẩu;
+ Đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều này, khi có văn bản thông báo ngừng kiểm tra chặt của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc Bộ Công Thương của Việt Nam. |
- Áp dụng kiểm tra giảm đối với mặt hàng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Đã được xác nhận đạt yêu cầu về an toàn thực phẩm bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước đã ký kết Điều ước quốc tế thừa nhận lẫn nhau trong hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm mà Việt Nam là thành viên; có kết quả kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu đối với lô hàng, mặt hàng phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam;
+ Có Thông báo chuyển phương thức kiểm tra của mặt hàng từ kiểm tra thông thường sang kiểm tra giảm của cơ quan kiểm tra nhà nước;
Mặt hàng được áp dụng kiểm tra giảm tối đa trong thời gian 12 tháng kể từ khi cơ quan kiểm tra nhà nước có Thông báo chuyển phương thức kiểm tra của mặt hàng từ kiểm tra thông thường sang kiểm tra giảm (trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này).
- Kiểm tra thông thường áp dụng đối với tất cả mặt hàng nhập khẩu, trừ trường hợp quy kiểm tra chặt hoặc kiểm tra giảm.
- Kiểm tra chặt áp dụng đối với mặt hàng nhập khẩu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Không đạt yêu cầu nhập khẩu tại lần kiểm tra trước đó;
+ Có kết luận chỉ tiêu chất lượng, an toàn thực phẩm không đạt từ các đoàn thanh tra, kiểm tra (nếu có);
+ Có cảnh báo của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài hoặc của nhà sản xuất.
- Chuyển đổi giữa các phương thức kiểm tra
+ Mặt hàng có 03 lần nhập khẩu liên tiếp trong vòng 12 tháng được cấp Thông báo kết quả xác nhận thực phẩm đạt yêu cầu nhập khẩu theo phương thức kiểm tra thông thường sẽ được áp dụng phương thức kiểm tra giảm. Thời gian áp dụng kiểm tra giảm tối đa là 12 tháng kể từ ngày ký Thông báo kết quả xác nhận thực phẩm đạt yêu cầu nhập khẩu đối với lần nhập khẩu cuối cùng trong 3 lần liên tiếp. Hết thời gian áp dụng kiểm tra giảm, mặt hàng nhập khẩu tiếp tục áp dụng phương thức kiểm tra thông thường (trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 22 Nghị định 46/2026).
Việc thực hiện chuyển đổi giữa phương thức kiểm tra thông thường với phương thức kiểm tra giảm cho mặt hàng nhập khẩu sẽ áp dụng luân phiên theo nguyên tắc trên.
+ Mặt hàng nhập khẩu có 03 lần liên tiếp được cấp Thông báo kết quả xác nhận thực phẩm đạt yêu cầu nhập khẩu theo phương thức kiểm tra chặt trong vòng 12 tháng sẽ được áp dụng phương thức kiểm tra thông thường kể từ ngày cơ quan kiểm tra nhà nước ký thông báo chuyển phương thức kiểm tra (trừ trường hợp có cảnh báo khác liên quan đến thời hạn áp dụng phương thức kiểm tra chặt của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền). |
Xem thêm tại Nghị định 46/2026/NĐ-CP.