.
06 ngân hàng phát triển là đối tác cho vay lớn của Việt Nam (Hình từ Internet)
Căn cứ Quyết định 441/QĐ-TTg năm 2026 phê duyệt Kế hoạch thực hiện Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2026-2030 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
06 ngân hàng phát triển là đối tác cho vay lớn Việt Nam gồm:
(1) Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)
(2) Cơ quan Phát triển Pháp (AFD)
(3) Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA)
(4) Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW)
(5) Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIM)
(6) Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB)
Ngoài ra còn có 02 tổ chức đối tác có tiềm năng cung cấp vốn vay quy mô lớn cho Việt Nam gồm:
(i) Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB)
(ii) Quỹ Phát triển Quốc tế của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OFID)
Đồng thời, tại Quyết định 441/QĐ-TTg năm 2026 Thủ tướng đề ra Định hướng đối với các đối tác phát triển là 06 ngân hàng phát triển trên (ADB, AFD, JICA, KfW, KEXIM, WB) và một số đối tác phát triển có tiềm năng cung cấp vốn vay quy mô lớn cho Việt Nam (AIIB, OFID, Trung Quốc) như sau:
+ Ưu tiên các đối tác có điều kiện vay thuận lợi, ít ràng buộc; quy trình, thủ tục nhanh chóng, linh hoạt; nhiều lựa chọn về sản phẩm tài chính phù hợp với đặc thù của Việt Nam; có hỗ trợ hoặc cơ hội về chuyển giao công nghệ, kỹ thuật chuyên sâu và cung cấp thêm các khoản viện trợ không hoàn lại.
+ Ưu tiên sử dụng vốn của các đối tác phát triển này cho phát triển cơ sở hạ tầng trọng điểm có "tính lan tỏa", tạo "đột phá" và "chuyển đổi trạng thái" ở cấp quốc gia, vùng và tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; bên cạnh đó sử dụng một phần cho cải thiện, giải quyết các vấn đề về hạ tầng kinh tế - xã hội, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và thiên tai, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.
Cơ chế Vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài theo Luật Quản lý nợ công sửa đổi 2025
Căn cứ Điều 29 Luật Quản lý nợ công sửa đổi 2025 việc vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài thực hiện như sau:
(1) Các Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, doanh nghiệp nhà nước gửi đề xuất khoản vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài cho Bộ Tài chính.
(2) Đề xuất khoản vay gồm các nội dung sau đây:
(i) Bên cho vay nước ngoài dự kiến;
(ii) Trị giá vay nước ngoài; điều kiện vay dự kiến;
(iii) Mục đích sử dụng vốn; dự kiến thời gian giải ngân;
(iv) Cơ chế tài chính trong nước; dự kiến nguồn trả nợ;
(v) Văn bản thể hiện sự quan tâm của bên cho vay nước ngoài (nếu có).
(3) Phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ về đề xuất khoản vay là cơ sở để cơ quan đề xuất khoản vay thực hiện thủ tục đầu tư chương trình, dự án theo quy định của pháp luật về đầu tư công, pháp luật về đầu tư.
(4) Việc ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài cho chương trình, dự án phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
(i) Hoàn thành các thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật;
(ii) Điều ước quốc tế, thỏa thuận về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài được cấp có thẩm quyền chấp thuận việc ký kết.
(5) Phân bổ, sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả theo nguyên tắc sau đây:
(i) Cấp phát đối với chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương;
(ii) Cho vay lại, cấp phát đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp công lập;
(iii) Cho vay lại doanh nghiệp.
(6) Đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế, thỏa thuận về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài:
(i) Đối với điều ước quốc tế về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài nhân danh Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước quyết định đàm phán, ký, phê chuẩn, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt hiệu lực;
(ii) Đối với điều ước quốc tế về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài nhân danh Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định đàm phán; Chính phủ quyết định ký, phê duyệt, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt hiệu lực;
(iii) Đối với thỏa thuận về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài nhân danh Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định ký và sửa đổi, bổ sung, gia hạn đối với các sửa đổi, bổ sung, gia hạn làm tăng nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ;
(iv) Trường hợp điều ước quốc tế về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài có thể được áp dụng ngay, không yêu cầu sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật thì có thể đồng thời đề xuất ký và phê chuẩn hoặc phê duyệt;
(v) Trường hợp bên cho vay nước ngoài không yêu cầu cấp giấy ủy quyền đàm phán điều ước quốc tế, căn cứ phê duyệt của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, cơ quan chủ trì đàm phán thực hiện đàm phán điều ước quốc tế với bên cho vay nước ngoài;
(vi) Đối với điều ước quốc tế về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài, cơ quan đề xuất ký kết được đồng thời lấy ý kiến kiểm tra của Bộ Ngoại giao, ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp và ý kiến các cơ quan về đề xuất ký;
(vii) Trường hợp sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài, không phải lấy ý kiến kiểm tra của Bộ Ngoại giao, ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp khi trình cấp có thẩm quyền quyết định;
(viii) Đối với điều ước quốc tế về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài, sau khi ký không phải thực hiện thủ tục trình phê duyệt kế hoạch thực hiện;
(ix) Trình tự, thủ tục, hồ sơ đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, thực hiện, chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài thực hiện theo quy định của Chính phủ.
(7) Các quy định liên quan tới điều ước quốc tế về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài không được quy định tại Luật này thì thực hiện theo quy định của pháp luật về điều ước quốc tế và quy định khác của pháp luật có liên quan.
(8) Kinh phí cho hoạt động đàm phán, ký, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, phê chuẩn, phê duyệt, chấm dứt hiệu lực, tổ chức thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận về vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài do ngân sách nhà nước bảo đảm.
(9) Chính phủ quy định chi tiết.