Người được giới thiệu đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện để bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 94 và Điều 95 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15, Luật số 142/2025/QH15 và Luật số 150/2025/QH15 (sau đây viết tắt là Luật Tổ chức Tòa án nhân dân);
- Không đang trong thời gian chấp hành quyết định kỷ luật hoặc xem xét xử lý kỷ luật;
- Kết quả đánh giá, xếp loại công chức trong 03 năm liền kề trước thời điểm đề nghị bổ nhiệm phải được đánh giá, xếp loại là công chức “hoàn thành tốt nhiệm vụ” trở lên;
- Tuổi bổ nhiệm phải đáp ứng quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024;
- Không đang trong thời gian bị xử lý trách nhiệm theo quy định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về xử lý trách nhiệm đối với người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân.
Người được đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán Tòa án nhân dân phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 10 của Thông tư này;
- Không thuộc trường hợp bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức chưa xem xét hoặc không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán Tòa án nhân dân theo quy định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về xử lý trách nhiệm đối với người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân.
Thủ trưởng đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án cấp tỉnh chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá tiêu chuẩn, điều kiện của người được đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, xét nâng bậc Thẩm phán Tòa án nhân dân.
Thời gian công tác để kiểm điểm, đánh giá là trong 03 năm công tác liền kề đối với người được đề nghị bổ nhiệm, trong nhiệm kỳ đối với người được đề nghị bổ nhiệm lại và trong 05 năm công tác liền kề đối với người được đề nghị xét nâng bậc Thẩm phán Tòa án nhân dân.
Xem chi tiết tại Thông tư 02/2026/TT-TANDTC có hiệu lực từ ngày 15/1/2026.