Nghị định 71/2026/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là hành vi có lỗi do tổ chức, cá nhân thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử không được quy định tại Nghị định 71/2026/NĐ-CP thì áp dụng quy định tại các nghị định khác của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan để xử phạt.
* Đơn cử quy định về mức phạt tiền và thẩm quyền xử phạt; hành vi vi phạm đã kết thúc, hành vi vi phạm đang thực hiện như sau:
- Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đối với cá nhân đến 1.000.000.000 đồng, đối với tổ chức đến 2.000.000.000 đồng.
- Mức phạt tiền theo thẩm quyền quy định tại Chương II Nghị định này được áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, trừ khoản 4, khoản 5 Điều 7; khoản 4, khoản 6, khoản 7, khoản 8, khoản 9, khoản 10 Điều 8; khoản 4, khoản 5 Điều 10; khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 16 và các điều quy định tại Mục 4 Chương II Nghị định 71/2026/NĐ-CP . Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm hành chính, mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của những người được quy định tại các điều từ Điều 46 đến Điều 52 Nghị định 71/2026/NĐ-CP là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân.
- Hành vi vi phạm đã kết thúc, hành vi vi phạm đang thực hiện trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử:
+ Hành vi quy định tại điểm a, điểm c khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 5; điểm a, điểm e, điểm i khoản 5 Điều 8; Điều 16; điểm b khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3, khoản 5 Điều 18; điểm c, điểm đ khoản 1, khoản 5 Điều 19; khoản 2, khoản 3 Điều 21; khoản 3, khoản 4 Điều 24; điểm d khoản 1 Điều 29; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 41; điểm a khoản 3, điểm b khoản 4 Điều 42; điểm d khoản 2 Điều 45 của Nghị định 71/2026/NĐ-CP là hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc, trong trường hợp hành vi vi phạm không tiếp diễn, thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là thời điểm mà tổ chức, cá nhân kết thúc thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định;
+ Hành vi được quy định tại điểm b khoản 1, điểm đ, điểm g khoản 5 Điều 8; khoản 1, điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 2 Điều 10; Điều 11; khoản 1, khoản 2 Điều 13; điểm a, điểm i khoản 1 Điều 19; điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38; khoản 1 Điều 39 của Nghị định 71/2026/NĐ-CP là hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện, thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;
+ Trừ các hành vi được quy định tại điểm a, điểm b khoản này, các hành vi khác được quy định trong Nghị định này do người có thẩm quyền xử phạt xác định thời hiệu xử phạt theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Xem thêm Nghị định 71/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/5/2026.