
Công văn 1057: Giới thiệu Nghị định 50/2026 tháo gỡ khó khăn thi hành Luật Đất đai về tiền sử dụng đất (Thuế Quảng Ngãi) (Hình từ Internet)
Thuế tỉnh Quảng Ngãi ban hành Công văn 1057/QNG-NVDTPC ngày 04/02/2026 về việc tuyên truyền Nghị định 50/2026/NĐ-CP của Chính Phủ.
![]() |
Công văn 1057/QNG-NVDTPC |
Ngày 31/01/2026 Chính phủ ban hành Nghị định 50/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết 254/2025/QH15 quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
Tại Nghị định 50/2026/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn cụ thể một số quy định tháo gỡ khó khăn vướng mắc về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại Nghị quyết 254/2025/QH15 quy định cụ thể như sau:
- Căn cứ tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (quy định tại các khoản 1, 2 và 6 Điều 5 Nghị quyết 254/2025/QH15).
- Tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi chuyển mục đích sử dụng đất (quy định tại điểm b khoản 2 và điểm d khoản 13 Điều 3, khoản 10 Điều 4, khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 10 Nghị quyết 254/2025/QH15).
- Xử lý tiền thuê đất, tiền chậm nộp tiền thuê đất (quy định tại điểm c khoản 9 Điều 4 Nghị quyết 254/2025/QH15 đối với đơn vị sự nghiệp công lập chuyển hình thức thuê đất sang hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 2024).
- Tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã được miễn, giảm (quy định tại khoản 7 Điều 7 Nghị quyết 254/2025/QH15 đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 33 Luật Đất đai 2024).
- Xử lý tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà nhà đầu tư đã ứng trước (quy định tại khoản 8 Điều 3 Nghị quyết 254/2025/QH15).
- Tính tiền thuê đất phải nộp đối với nhà đầu tư mới thay thế cho nhà đầu tư đã giải thể, phá sản; nhà đầu tư nhận chuyển nhượng dự án đầu tư có sử dụng đất (quy định tại khoản 7 Điều 4 Nghị quyết 254/2025/QH15).
- Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các trường hợp khác (quy định tại điểm a khoản 3 Điều 10 Nghị quyết 254/2025/NĐ-CP).
- Miễn tiền thuê đất một số năm, giảm tiền thuê đất hằng năm (quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết 254/2025/NĐ-CP).
- Một số quy định xử lý chuyển tiếp về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Nghị định 50/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 31/01/2026. Bãi bỏ một số điều của Nghị định 103/2024/NĐ-CP của Chính phủ cụ thể: Điều 3, khoản 4 Điều 18, khoản 7 và khoản 8 Điều 19, Điều 23, khoản 6 Điều 39, khoản 4 Điều 40 Nghị định 103/2024/NĐ-CP của Chính phủ.
Theo khoản 5 Điều 6 Nghị định 50/2026/NĐ-CP, hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất được xác định như sau:
- Hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 6 Nghị định 50/2026/NĐ-CP là hạn mức giao đất ở do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định theo quy định của pháp luật về đất đai được áp dụng tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hạn mức này được xác định cho từng hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được hình thành do tách hộ theo quy định của pháp luật thì được tính là 01 đối tượng sử dụng đất để được áp dụng chính sách tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 6 Nghị định 50/2026/NĐ-CP.
- Trường hợp nhiều hộ gia đình, cá nhân có chung quyền sử dụng đất của 01 thửa đất thì diện tích trong hạn mức giao đất ở được xác định như sau:
Trường hợp các hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tách thửa đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân thì việc xác định diện tích trong hạn mức để tính tiền sử dụng đất được tính theo từng thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và theo nguyên tắc mỗi hộ gia đình, cá nhân được tách thửa chỉ được xác định diện tích đất theo hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất một lần theo quy định tại Nghị định 50/2026/NĐ-CP.
Trường hợp các hộ gia đình, cá nhân có chung quyền sử dụng đất của 01 thửa đất mà không thực hiện hoặc không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tách thửa đất thì việc xác định diện tích theo hạn mức giao đất ở được tính theo hạn mức của hộ gia đình hoặc cá nhân được cử là đại diện của những người có chung quyền sử dụng đất.
- Hạn mức giao đất ở tại địa phương đối với hộ gia đình khi tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định 50/2026/NĐ-CP được tính theo hạn mức giao đất ở cho cá nhân tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất mà không phụ thuộc vào số thành viên trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất.