Không đưa đất vào sử dụng gây lãng phí có thể bị xử lý hình sự từ 25/1/2026

14/01/2026 09:14 AM

Thay vì chỉ bị thu hồi đất, hành vi không đưa đất vào sử dụng gây lãng phí có thể bị xử lý hình sự từ 25/1/2026 theo Thông tư liên tịch số 11/2025.

Không đưa đất vào sử dụng gây lãng phí có thể bị xử lý hình sự từ 25/1/2026

Nội dung được đề cập tại Thông tư liên tịch 11/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BTC-BCT-BXD-BNN&MT-KTNN-TTCP hướng dẫn việc xác định lãng phí để áp dụng trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm liên quan đến lãng phí theo quy định của Bộ luật Hình sự do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao - Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Bộ trưởng Bộ Tư pháp - Bộ trưởng Bộ Tài chính - Bộ trưởng Bộ Công Thương - Bộ trưởng Bộ Xây dựng - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường - Tổng Kiểm toán Nhà nước - Tổng Thanh tra Chính phủ ban hành ngày 10/12/2025, chính thức có hiệu lực từ 25/01/2026.

Cụ thể, tại Điều 8 Thông tư liên tịch số 11/2025 liệt kê ra 07 dấu hiệu vi phạm trong quản lý, khai thác, sử dụng đất đai và các tài nguyên khác có khả năng gây lãng phí.

Trong đó có hành vi sử dụng đất không đúng mục đích đã được nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; đất không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư; không thực hiện đúng thời hạn trả lại đất theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây lãng phí.

Như vậy, hành vi không đưa đất vào sử dụng gây lãng phí có thể bị xử lý hình sự từ 25/01/2026 theo Thông tư liên tịch số 11/2025.

Không đưa đất vào sử dụng gây lãng phí có thể bị xử lý hình sự từ 25/1/2026

Không đưa đất vào sử dụng gây lãng phí có thể bị xử lý hình sự từ 25/1/2026 (Hình từ internet)

Không đưa đất vào sử dụng bị thu hồi đất

Hiện hành, theo Điều 81 Luật Đất đai 2024, một trong những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai sẽ bị thu hồi đất là:

Đất được Nhà nước giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư;

Trường hợp không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ sử dụng đất so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng không quá 24 tháng và phải nộp bổ sung cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian được gia hạn; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất và chi phí đầu tư vào đất còn lại.

Lưu ý: Trường hợp này không áp dụng đối với trường hợp bất khả kháng.

**Chi tiết tại Điều 31 Nghị định 102/2024 có nêu trường hợp bất khả kháng để áp dụng trong việc xử lý các trường hợp quy định tại các khoản 6, 7 và 8 Điều 81 Luật Đất đai là sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan theo quy định của pháp luật về dân sự mà ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng đất, bao gồm:

  • Thiên tai, thảm họa môi trường;
  • Hỏa hoạn, dịch bệnh;
  • Chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, an ninh;
  • Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp;
  • Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, kê biên, phong tỏa quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật mà sau đó người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất;
  • Quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là trở ngại khách quan, không do lỗi của người sử dụng đất, tác động trực tiếp đến việc sử dụng đất;
  • Các trường hợp khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề xuất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ trưởng bộ quản lý chuyên ngành. (Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ quyết định các trường hợp bất khả kháng khác theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 31 Nghị định 102/2024/NĐ-CP do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện)

Chia sẻ bài viết lên facebook 38

Các tin khác
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn
Đơn vị chủ quản: Công ty cổ phần LawSoft. Giấy phép số: 32/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 15/05/2019 Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3935 2079