
Từ chối và hủy bỏ văn bằng bảo hộ khi phát hiện do AI tạo ra theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 (Hình từ Internet)
Quốc hội đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 số 131/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/04/2026.
Theo đó, Luật quy định Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các đối tượng quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Như vậy, AI không phải là chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ
Luật số 131/2025/QH15 cũng đưa ra những quy định để xử lý một số vấn đề phát sinh do sự phát triển của công nghệ, nổi bật là các vấn đề liên quan đến hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI).
Đơn cử, đối với quy định về vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với đối tượng do AI tạo ra hoặc có sử dụng AI trong quá trình tạo ra, cụ thể là, Luật quy định bổ sung quy định từ chối và hủy bỏ văn bằng bảo hộ khi phát hiện chủ thể tạo ra không phải là con người, phù hợp với chính sách chỉ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các đối tượng do con người tạo ra (tác giả là con người). Chi tiết, Giao Chính phủ quy định việc phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra có sử dụng AI.
Ngoài ra đối với quy định khai thác dữ liệu để nghiên cứu, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống AI, Luật quy định phải đáp ứng điều kiện không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, tác giả và tuân thủ các quy định của Chính phủ.
Quy định từ chối văn bằng bảo hộ tại Luật Sở hữu trí tuệ
Việc từ chối văn bằng bảo hộ thực hiện theo quy định tại Điều 117 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) như sau:
(1) Đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ trong các trường hợp sau đây:
- Có cơ sở để khẳng định rằng đối tượng nêu trong đơn không đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo hộ;
- Có cơ sở để khẳng định rằng người nộp đơn không có quyền đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu;
- Đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ nhưng không phải là đơn có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 90 của Luật này;
- Đơn thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 90 của Luật này mà không được sự thống nhất của tất cả những người nộp đơn;
- Việc sửa đổi, bổ sung đơn làm mở rộng phạm vi đối tượng đã bộc lộ hoặc nêu trong đơn hoặc làm thay đổi bản chất của đối tượng yêu cầu đăng ký nêu trong đơn.
(2) Ngoài các trường hợp quy định tại (1), đơn đăng ký sáng chế bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ trong các trường hợp sau đây:
- Sáng chế được yêu cầu bảo hộ vượt quá phạm vi bộc lộ trong bản mô tả ban đầu của đơn đăng ký sáng chế;
- Sáng chế không được bộc lộ đầy đủ và rõ ràng trong bản mô tả sáng chế đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế đó;
- Đối với sáng chế được trực tiếp tạo ra dựa trên nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen, đơn đăng ký sáng chế không bộc lộ hoặc bộc lộ không chính xác về nguồn gốc của nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen;
- Đơn đăng ký sáng chế được nộp trái với quy định về kiểm soát an ninh đối với sáng chế quy định tại Điều 89a của Luật này.
(3) Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 1a Điều này, đơn đăng ký sáng chế và đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ trong trường hợp có cơ sở để khẳng định rằng tác giả sáng chế, tác giả kiểu dáng công nghiệp đó không trực tiếp sáng tạo ra đối tượng.
(4) Đơn đăng ký thiết kế bố trí bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ trong trường hợp không đáp ứng yêu cầu về hình thức theo quy định tại Điều 109 của Luật.
Xem thêm tại Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 số 131/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/04/2026.