Ngày 23/01/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Theo đó, Điều 36 Nghị định 37/2026/NĐ-CP đã nêu quy định về vị trí nhãn hàng hóa từ ngày 23/01/2026 như sau:
(1) Nhãn hàng hóa phải được thể hiện trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa ở vị trí khi quan sát có thể nhận biết được dễ dàng, đầy đủ các nội dung quy định của nhãn mà không phải tháo rời các chi tiết, các phần của hàng hóa.
Những nội dung bắt buộc phải ghi trên nhãn hàng hóa không cần thể hiện tập trung trên nhãn, có thể được ghi trên vị trí khác của hàng hóa, bảo đảm khi quan sát có thể nhận biết được dễ dàng, đầy đủ mà không phải tháo rời các chi tiết, các phần của hàng hóa. Những nội dung bắt buộc đó là một phần của nhãn hàng hóa.
Đối với các hàng hóa đặc thù như tranh, tượng, đồ gốm sứ nghệ thuật, điêu khắc, nhãn hàng hóa không thể hiện được ở vị trí dễ quan sát trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa nhãn hàng hóa, thì nhãn hàng hóa được thể hiện trên thẻ rời đi kèm hàng hóa, mặt sau hoặc mặt dưới của hàng hóa.
(2) Hàng hóa có cả bao bì trực tiếp và bao bì ngoài thực hiện ghi nhãn theo nguyên tắc sau:
- Hàng hóa trên thị trường có cả bao bì ngoài, không bán riêng lẻ các đơn vị hàng hóa nhỏ có bao bì trực tiếp bên trong thì phải ghi nhãn trên bao bì ngoài;
- Hàng hóa trên thị trường có cả bao bì ngoài và đồng thời tách ra bán lẻ các đơn vị hàng hóa nhỏ có bao bì trực tiếp bên trong thì phải ghi nhãn đầy đủ cho cả bao bì ngoài và bao bì trực tiếp.
Trường hợp không được hoặc không thể mở bao bì ngoài thì trên bao bì ngoài phải có nhãn và nhãn phải trình bày đầy đủ nội dung bắt buộc.
Trường hợp bao bì ngoài trong suốt có thể quan sát được nội dung ghi nhãn sản phẩm bên trong thì không bắt buộc ghi nhãn cho bao bì ngoài.

Quy định về vị trí nhãn hàng hóa mới nhất 2026 (Hình từ internet)
(1) Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa kể cả nhãn phụ phải bảo đảm ghi nhãn trung thực, rõ ràng, chính xác, phản ánh đúng bản chất của hàng hóa.
(2) Hàng hóa sản xuất để lưu thông trong nước thì tổ chức, cá nhân sản xuất phải chịu trách nhiệm thực hiện ghi nhãn hàng hóa.
Trong trường hợp tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa yêu cầu tổ chức, cá nhân khác thực hiện việc ghi nhãn thì tổ chức, cá nhân đó vẫn phải chịu trách nhiệm về nhãn hàng hóa của mình.
Trường hợp tổ chức, cá nhân đặt gia công sản xuất sản phẩm, hàng hóa theo yêu cầu và tiêu chuẩn chất lượng của mình thì tổ chức, cá nhân đặt hàng có trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa, chịu trách nhiệm về hàng hóa và nội dung ghi nhãn hàng hóa. Tổ chức, cá nhân thực hiện gia công được ghi nhãn theo yêu cầu của bên đặt hàng nhưng không phải là tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về nhãn hàng hóa.
(3) Trong trường hợp hàng hóa xuất khẩu không xuất khẩu được hoặc bị trả lại, đưa ra lưu thông trên thị trường thì tổ chức, cá nhân đưa hàng hóa ra lưu thông phải ghi nhãn theo quy định Nghị định 37/2026/NĐ-CP.
(4) Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam phải ghi nhãn theo quy định về nội dung bắt buộc thể hiện trên nhãn hàng hóa nhập khẩu tại Nghị định này.
(5) Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa trên nền tảng thương mại điện tử trên lãnh thổ Việt Nam có trách nhiệm:
- Công khai toàn bộ nội dung nhãn hàng hóa, nhãn điện tử (nếu có), trừ các thông tin có tính chất riêng biệt theo sản phẩm như: năm, tháng, ngày sản xuất; hạn sử dụng; số lô sản xuất; số khung, số máy trên nền tảng thương mại điện tử;
- Khai báo, cập nhật chính xác thông tin hàng hóa lên hệ thống bán hàng theo quy định pháp luật về thương mại điện tử và bảo vệ người tiêu dùng;
- Bảo đảm hàng hóa khi giao đến tay người tiêu dùng phải có nhãn hàng hóa theo đúng quy định.
(6) Chủ quản nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm:
- Bảo đảm hàng hóa kinh doanh trên nền tảng được khai báo thông tin ghi nhãn đầy đủ, hiển thị công khai nhãn hàng hóa, nhãn điện tử (nếu có) khi đăng bán sản phẩm, hàng hóa;
- Cung cấp, chia sẻ dữ liệu tối thiểu để kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, bao gồm: thông tin về tổ chức, cá nhân kinh doanh trên nền tảng; dữ liệu về nhãn hàng hóa; thông tin phản ánh từ người tiêu dùng có liên quan đến nhãn hàng hóa và chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
- Lưu trữ đầy đủ, an toàn và bảo mật dữ liệu về nhãn hàng hóa và các thông tin liên quan trong quá trình kinh doanh trên nền tảng, bao gồm thông tin về người bán, hợp đồng điện tử, chứng từ, hóa đơn, tài liệu chứng minh tính hợp pháp của nhãn hàng hóa, tài liệu công bố và chứng nhận chất lượng, cùng dữ liệu giao dịch. Thời hạn lưu trữ tối thiểu là 05 năm để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.
(Điều 41 Nghị định 37/2026/NĐ-CP)