
Dấu hiệu mất an toàn tài chính của doanh nghiệp nhà nước theo quy định mới nhất (Hình từ Internet)
Chính phủ ban hành Nghị định 365/2025/NĐ-CP giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, có hiệu lực từ 31/12/2025
Theo Điều 20 Nghị định 365/2025/NĐ-CP dấu hiệu mất an toàn tài chính của doanh nghiệp nhà nước được quy định như sau:
(1) Dấu hiệu mất an toàn tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
(i) Đối với doanh nghiệp đang trong giai đoạn lỗ kế hoạch: Có số lỗ phát sinh năm báo cáo lớn hơn 30% so với mức lỗ kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
(ii) Đối với doanh nghiệp sau giai đoạn lỗ kế hoạch thuộc một trong các trường hợp sau:
- Có số lỗ phát sinh trong năm báo cáo từ 30% vốn đầu tư của chủ sở hữu trở lên hoặc số lỗ lũy kế lớn hơn 50% vốn đầu tư của chủ sở hữu;
- Có hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu vượt quá mức an toàn theo quy định của cơ quan đại diện chủ sở hữu (nếu có).
(2) Dấu hiệu khác cơ quan đại diện chủ sở hữu cần kết hợp xem xét khi xác định dấu hiệu mất an toàn tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
(i) Đối với doanh nghiệp đang trong giai đoạn lỗ kế hoạch: Có số lỗ thực tế lớn hơn số lỗ kế hoạch trong 2 năm liền.
(ii) Đối với doanh nghiệp sau giai đoạn lỗ kế hoạch thuộc một trong các trường hợp sau:
- Lỗ hai năm liên tiếp trở lên;
- Doanh thu thuần hoặc lợi nhuận gộp giảm liên tiếp 2 năm trở lên;
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh âm liên tiếp 2 năm trở lên;
- Không tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính, hoặc có ý kiến kiểm toán trái ngược, từ chối đưa ra ý kiến trong Báo cáo kiểm toán, hoặc ý kiến kiểm toán ngoại trừ trong Báo cáo kiểm toán trong 2 năm liền về cùng một vấn đề có ảnh hưởng trọng yếu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; có ý kiến về vấn đề cần nhấn mạnh hoặc các dấu hiệu, sự kiện, xét riêng lẻ hay kết hợp lại, có thể dẫn đến nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp trong 2 năm liền trong Báo cáo kiểm toán.
(3) Các dấu hiệu quy định tại (1) và (2) là dấu hiệu cảnh báo khả năng đặt một doanh nghiệp vào tình trạng giám sát tài chính đặc biệt. Khi doanh nghiệp có một trong các dấu hiệu này, cơ quan đại diện chủ sở hữu chủ trì, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp, xem xét dấu hiệu mất an toàn tài chính để quyết định đưa doanh nghiệp vào diện giám sát tài chính đặc biệt hay tiếp tục thực hiện giám sát, kiểm tra theo quy định tại Điều 14 đến Điều 18 Nghị định 365/2025/NĐ-CP.
Trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp được đưa vào diện giám sát tài chính đặc biệt
Theo Điều 22 Nghị định 365/2025/NĐ-CPTrách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp được đưa vào diện giám sát tài chính đặc biệt
(1) Đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
(i) Chỉ đạo người đại diện chủ sở hữu trực tiếp vốn nhà nước tại doanh nghiệp phân tích, đánh giá nguyên nhân chính dẫn tới việc mất an toàn tài chính của doanh nghiệp.
(ii) Chỉ đạo người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp xây dựng phương án khắc phục khó khăn tài chính của doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp cần cơ cấu lại tổ chức, hoạt động kinh doanh, tài chính, cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, phê duyệt phương án cơ cấu lại doanh nghiệp.
Phương án khắc phục, phương án cơ cấu lại phải quy định rõ đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm triển khai thực hiện; kết quả cụ thể khi hoàn thành phương án; thời gian thực hiện; điều kiện để triển khai phương án và nhu cầu hỗ trợ trong phạm vi quy định của pháp luật (nếu có).
(iii) Quy định tần suất báo cáo, chỉ tiêu giám sát và cơ chế phản hồi thông tin giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu, doanh nghiệp và các bên có liên quan (nếu cần).
(iv) Giám sát doanh nghiệp thực hiện phương án đã được phê duyệt.
(v) Phối hợp với cơ quan liên quan phân tích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh, công tác quản lý tài chính, điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để đưa ra ý kiến chỉ đạo doanh nghiệp.
(vi) Trường hợp cần thiết, cơ quan đại diện chủ sở hữu tổ chức giám sát hoặc phối hợp với Bộ Tài chính, cơ quan liên quan tổ chức giám sát doanh nghiệp nhằm đánh giá tính trung thực, chính xác về các chỉ tiêu trong báo cáo của doanh nghiệp; công tác quản lý điều hành hoạt động kinh doanh của Ban điều hành doanh nghiệp; công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, quản lý tài chính và nguồn lực khác của doanh nghiệp.
Việc giám sát phải có báo cáo, kết luận về những nội dung giám sát và đưa ra những khuyến nghị đối với doanh nghiệp.
(vii) Báo cáo, kiến nghị Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ phương án xử lý trong trường hợp doanh nghiệp đã thực hiện giải pháp, kiến nghị của cơ quan đại diện chủ sở hữu mà kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp không được cải thiện.
(viii) Khi doanh nghiệp đã phục hồi, không cần thiết tiếp tục thực hiện giám sát tài chính đặc biệt, cơ quan đại diện chủ sở hữu đánh giá, ban hành quyết định kết thúc giám sát tài chính đặc biệt.
(ix) Doanh nghiệp thuộc diện giám sát tài chính đặc biệt sau khi kết thúc thời hạn áp dụng phương án khắc phục, phương án cơ cấu lại mà chưa phục hồi được hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính theo phương án cơ cấu lại doanh nghiệp, phương án khắc phục thì báo cáo cơ quan có thẩm quyền để thực hiện chuyển đổi sở hữu hoặc sắp xếp lại doanh nghiệp theo quy định.
(2) Đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ đến dưới 100% vốn điều lệ
Cơ quan đại diện chủ sở hữu chỉ đạo người đại diện phần vốn nhà nước biểu quyết, quyết định nội dung quy định tại khoản 1 Điều này để thực hiện giám sát tài chính đặc biệt.
Xử lý doanh nghiệp nhà nước thua lỗ kéo dài các dự án đầu tư yếu kém
Tại Nghị quyết 79-NQ/TW năm 2026 phát triển kinh tế nhà nước do Ban Chấp hành Trung ương ban hành, Bộ Chính trị đề ra nhiều nhiệm vụ giải pháp đối với doanh nghiệp nhà nước. Trong đó yêu cầu t ăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị doanh nghiệp
- Hoàn thiện quy định xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các chức danh quản lý trong hệ thống quản trị của doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm trách nhiệm đi đôi với quyền hạn; cơ chế giám sát hoạt động, trách nhiệm giải trình của người đại diện phần vốn nhà nước, các chức danh quản lý tại doanh nghiệp gắn với việc nâng cao tiêu chuẩn, điều kiện, tăng cường phân công, phân cấp.
- Thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ có hiệu quả trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, xung đột lợi ích. Kiên quyết thay thế, miễn nhiệm những người thiếu trách nhiệm, yếu kém để xảy ra thất thoát, lãng phí, gây ảnh hưởng tiêu cực, làm trì trệ, kìm hãm sự phát triển và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
- Thực hiện có hiệu quả cơ chế tiền lương, bảo đảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong việc thu hút nguồn lực chất lượng cao. Xây dựng cơ chế thưởng tại doanh nghiệp theo tỉ lệ đối với phần lợi nhuận vượt kế hoạch, gắn với nâng cao chất lượng công tác lập và giao kế hoạch của doanh nghiệp, bảo đảm chặt chẽ, sát thực tiễn. Có cơ chế để doanh nghiệp cổ phần được chủ động hình thành quỹ cổ phiếu thưởng nhằm thu hút, giữ chân người lao động có trình độ cao về chuyên môn, quản lý, có đóng góp lớn cho sự phát triển của doanh nghiệp trên nguyên tắc bảo đảm minh bạch, khách quan, không ảnh hưởng tới quyền kiểm soát của cổ đông nhà nước. Thí điểm cơ chế đặc thù về thuê, tuyển dụng, bổ nhiệm giám đốc/tổng giám đốc tại một số doanh nghiệp nhà nước.
- Hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc đánh giá tổng thể trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ được giao, phản ánh đầy đủ lợi thế, các nguồn lực Nhà nước giao thông qua các chỉ số hiệu quả tài chính, phi tài chính được lượng hoá, minh bạch, phù hợp thông lệ quốc tế; hạch toán tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh, nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận.
- Khẩn trương rà soát, xử lý các dự án đầu tư yếu kém, doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, xác định rõ và xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định, tạo điều kiện để doanh nghiệp phá sản hoặc tiếp tục tái cơ cấu, hoạt động lành mạnh trở lại, tránh để kéo dài gây lãng phí, thất thoát tài sản, nguồn vốn, giảm thiểu thiệt hại cho nhà nước, doanh nghiệp.
- Nghiên cứu đổi mới hoàn thiện mô hình cơ quan đại diện chủ sở hữu, mô hình Hội đồng thành viên bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn từng thời kỳ.