
Công văn hướng dẫn Danh mục cơ sở PCCC khi thuê nhà để hoạt động kinh doanh (Công văn 325/C07-P1)
Tại Công văn 325/C07-P1 năm 2026, Cục Cảnh sát PCCC và CNCH nhận được phản ánh, kiến nghị về luật PCCC và CNCH, Nghị định số 105/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 của Chính phủ như sau:
Kính gửi: Cục Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ - Bộ Công an, Trong quá trình nghiên cứu, áp dụng các quy định pháp luật phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (“PCCC và CNCH”) theo Luật số 55/2024/QH15 và Nghị định 105/2025/NĐ-CP hướng dẫn thi hành (“Nghị định 105”), tôi nhận thấy đang còn tồn tại bất cập, cụ thể như sau: 1. Khó khăn trong việc xác định Danh mục cơ sở theo Nghị định 105 - Công ty tôi có trụ sở chính tại Hà Nội theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do phòng Đăng ký kinh doanh cấp. Công ty thuê nhà của các tổ chức, cá nhân làm cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ và các ngành nghề khác (“Cơ sở kinh doanh”). Các cơ sở kinh doanh này có địa chỉ khác với trụ sở chính của Công ty. Theo quy định tại Phụ lục I Nghị định 105 thì các cơ sở này được xác định là “cơ sở kinh doanh dịch vụ khác” hoặc “nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh”. - Một số địa phương cho rằng, các Cơ sở kinh doanh trên là “trụ sở, nhà làm việc của doanh nghiệp”. Kiến nghị: Để thực hiện đúng quy định của pháp luật về PCCC và CNCH, tôi kính đề nghị Quý Cơ quan xem xét, hướng dẫn và xác định đối tượng các cơ sở kinh doanh nêu trên. 2. Vướng mắc khi xác định tổng diện tích phục vụ kinh doanh - Cơ sở kinh doanh của Công ty tôi được phân thành hai nhóm chính sau: Nhóm Cơ sở kinh doanh loại 1 có đặc điểm: nhà cao 2 tầng trở lên, tầng 1 để kinh doanh, tầng 2 trở lên bỏ trống không sử dụng. Nhóm Cơ sở kinh doanh loại 2 có đặc điểm: nhà cao 2 tầng trở lên, tầng 1 để kinh doanh, tầng 2 trở lên thì bên cho thuê dùng để ở. - Việc xác định “tổng diện tích phục vụ kinh doanh” có bao gồm cả diện tích các tầng bỏ trống và/hoặc các tầng mà bên cho thuê dùng để ở hay không là vấn đề đang gây khó khăn và vướng mắc cho doanh nghiệp. Thực tế nêu trên dẫn đến tình trạng cùng một loại hình cơ sở nhưng các địa phương áp dụng cách tính diện tích khác nhau, gây khó khăn trong việc tuân thủ quy định về PCCC và CNCH. Kiến nghị: Tôi kính đề nghị Quý Cơ quan hướng dẫn, xác định: Tổng diện tích phục vụ kinh doanh được xác định theo diện tích thực tế mà Cơ sở trực tiếp sử dụng để kinh doanh, hay bao gồm cả diện tích các tầng không sử dụng và/hoặc các tầng mà bên cho thuê dùng để ở. 3. Về thời hạn kiểm tra điều kiện PCCC và CNCH - Một trong các điều kiện để cơ sở kinh doanh được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự (“giấy phép ANTT”) là phải đáp ứng đầy đủ về an toàn PCCC và CNCH theo quy định của pháp luật. - Kể từ ngày 01/07/2025, trong quá trình thực hiện thủ tục đề nghị kiểm tra an toàn PCCC và CNCH, cơ sở kinh doanh gặp trở ngại do pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể về thời hạn cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra. Dẫn đến việc Cơ sở kinh doanh bị kéo dài thời gian chờ đợi, không thể hoàn tất thủ tục xin cấp giấy phép ANTT Kiến nghị: Tôi kính đề nghị Quý Cơ quan hướng dẫn, xác định thời hạn thực hiện việc kiểm tra và cấp biên bản đủ điều kiện về PCCC và CNCH cho cơ sở kinh doanh để làm hồ sơ cấp giấy phép ANTT. 4. Về thẩm quyền quản lý, kiểm tra về PCCC và CNCH - Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 42 Nghị định 105 về trách nhiệm của UBND các cấp, thì nhà ở, nhà ở kết hợp sản xuất kinh doanh và cơ sở thuộc Phụ lục I Nghị định 105 thì mới thuộc diện quản lý, kiểm tra về PCCC và CNCH của UBND cấp xã. Các cơ sở không thuộc Phụ lục I thì không nằm trong thẩm quyền kiểm tra về PCCC và CNCH của UBND cấp xã. - Một số UBND cấp xã vẫn tiến hành kiểm tra về PCCC và CNCH tại các Cơ sở kinh doanh, mặc dù các cơ sở này không thuộc danh mục quản lý theo Phụ lục I của Nghị định 105 và cũng không phải là nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh. Điều này gây lúng túng trong việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ áp dụng pháp luật không thống nhất. Kiến nghị: Tôi kính đề nghị Quý Cơ quan hướng dẫn, xác định: UBND cấp xã có thẩm quyền quản lý, kiểm tra PCCC và CNCH đối với các Cơ sở kinh doanh không phải nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh và không thuộc Phụ lục I của Nghị định 105 hay không. Trân trọng cảm ơn.
Sau khi nghiên cứu, Cục Cảnh sát PCCC và CNCH trả lời như sau:
1. Xác định danh mục cơ sở theo quy định tại Nghị định số 105/2025/NĐ-CP:
- Đối với trường hợp thuê toàn bộ nhà, công trình chỉ để hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ có tổng diện tích phục vụ kinh doanh từ 100 m2 trở lên thì được xác định là cơ sở kinh doanh dịch vụ khác quy định tại mục 11 Phụ lục I kèm theo Nghị định số 105/2025/NĐ-CP.
- Đối với trường hợp thuê một phần nhà ở riêng lẻ để phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ (có phần để ở của hộ gia đình) có tổng diện tích phục vụ sản xuất, kinh doanh từ 50 m2 trở lên thì được xác định là nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh quy định tại mục 32 Phụ lục I kèm theo Nghị định số 105/2025/NĐ-CP.
2. Diện tích phục vụ sản xuất, kinh doanh của cơ sở được xác định theo diện tích thực tế sử dụng để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
3. Về thời hạn và thẩm quyền quản lý, kiểm tra về PCCC:
- Trường hợp cơ sở thuộc Phụ lục II kèm theo Nghị định số 105/2025/NĐ-CP:
+ Thẩm quyền quản lý: Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH Công an cấp tỉnh.
+ Chế độ kiểm tra định kỳ: 01 năm một lần đối với cơ sở thuộc nhóm 1 Phụ lục II, 02 năm một lần đối với cơ sở thuộc nhóm 2 Phụ lục II.
- Trường hợp cơ sở còn lại thuộc Phụ lục I, trừ cơ sở quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định số 105/2025/NĐ-CP:
+ Thẩm quyền quản lý: Ủy ban nhân dân cấp xã.
+ Chế độ kiểm tra định kỳ: 03 năm một lần
Xem thêm tại Công văn 325/C07-P1 năm 2026.