
Bộ Công an sẽ quản lý thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (Hình từ Internet)
Ngày 24/10/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2352/QĐ-TTg phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong chương trình lập pháp năm 2026, trong đó giao Bộ Công an chủ trì xây dựng dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), trình Chính phủ trong tháng 5/2026.
Như vậy, Bộ Công an sẽ quản lý thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Hiện hành, căn cứ Điều 17 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, trách nhiệm này thuộc về Bộ Tư pháp.
Mới đây, Bộ Công an đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính 2026 thay thế Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
Dự thảo đề xuất quy định trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính như sau:
(1) Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi cả nước.
(2) Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
(i) Chủ trì hoặc phối hợp trong việc đề xuất, xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
(ii) Theo dõi chung và báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; thống kê, xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính;
(iii) Chủ trì, phối hợp hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ trong việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
(iv) Kiểm tra, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan tiến hành thanh tra việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
(v) Quy định chế độ báo cáo, biểu mẫu thống kê số liệu trong xử lý vi phạm hành chính.
(3) Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các bộ, ngành có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp với Bộ Công an thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều này; kịp thời cung cấp thông tin cho Bộ Công an về xử lý vi phạm hành chính để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia; định kỳ hằng năm báo cáo Bộ Công an về công tác xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý của cơ quan mình.
(4) Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước thực hiện quy định tại (2) và định kỳ hằng năm gửi báo cáo đến Bộ Công an về công tác xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý của cơ quan mình; chỉ đạo Tòa án nhân dân các cấp, cơ quan thuộc Kiểm toán nhà nước thực hiện việc báo cáo, cung cấp thông tin về xử lý vi phạm hành chính.
(5) Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân các cấp quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương, có trách nhiệm sau đây:
(i) Chỉ đạo việc tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
(ii) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
(iii) Kịp thời cung cấp thông tin cho Bộ Công an về xử lý vi phạm hành chính để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia; định kỳ hằng năm báo cáo Bộ Công an về công tác xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn.
(6) Cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tòa án nhân dân có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, cơ quan thi hành quyết định xử phạt, thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, cơ quan thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm cung cấp, cập nhật thông tin, kết quả xử lý vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền, phạm vi quản lý đến Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính.
(7) Chính phủ quy định chi tiết.