
Bổ sung cơ chế đăng ký hộ tịch tự động, chủ động (dự kiến) (Hình ảnh từ Internet)
Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến dự thảo Luật Hộ tịch.
![]() |
Dự thảo Luật Hộ tịch |
Căn cứ Điều 16 dự thảo Luật Hộ tịch đã đề xuất quy định về việc đăng ký khai sinh như sau:
(1) Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện đăng ký khai sinh cho các trường hợp sau:
- Trẻ em được sinh ra tại Việt Nam.
- Trẻ em được sinh ra ở nước ngoài chưa được đăng ký khai sinh, về cư trú tại Việt Nam và có cha và mẹ là công dân Việt Nam; hoặc có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia không rõ là ai; hoặc có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài, người không quốc tịch hoặc người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch cư trú tại Việt Nam.
- Công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch cư trú tại Việt Nam, được sinh ra ở Việt Nam mà chưa được đăng ký khai sinh, đã có hồ sơ, giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, xác nhận.
(2) Trường hợp trẻ em sinh ra tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đã cung cấp đủ nội dung đăng ký khai sinh theo quy định, dữ liệu được kết nối, chia sẻ tự động tới hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử thì Ủy ban nhân dân cấp xã chủ động thực hiện đăng ký khai sinh.
(3) Trường hợp không thực hiện đăng ký khai sinh chủ động theo (2) thì trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày trẻ em được sinh ra, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.
(4) Nội dung đăng ký khai sinh bao gồm các thông tin cơ bản sau:
- Thông tin của người được khai sinh: Họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày tháng năm sinh; số định danh cá nhân; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch.
Việc xác định họ, chữ đệm, tên, dân tộc, quốc tịch của người được khai sinh thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự, pháp luật quốc tịch.
- Thông tin của cha, mẹ người được khai sinh gồm: Họ, chữ đệm, tên; ngày tháng năm sinh; số định danh cá nhân (nếu có); dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú.
|
Bên cạnh đó, tại Điều 21 dự thảo Luật Hộ tịch cũng đề xuất việc đăng ký khai tử như sau: (1) Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc đăng ký khai tử cho các trường hợp cá nhân chết ở trong nước; công dân Việt Nam chết ở nước ngoài, đã đưa di hài, thi hài, tro cốt về Việt Nam nhưng chưa được đăng ký khai tử tại Cơ quan đại diện, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. (2) Trường hợp cá nhân chết tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đã cung cấp đủ nội dung đăng ký khai tử theo quy định, dữ liệu được kết nối, chia sẻ tự động tới hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử thì Ủy ban nhân dân cấp xã chủ động thực hiện đăng ký khai tử. (3) Trường hợp không thực hiện đăng ký khai tử chủ động theo quy định tại khoản 1 Điều này thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết, vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử. (4) Nội dung đăng ký khai tử bao gồm các thông tin cơ bản sau: - Thông tin của người được khai tử: Họ, chữ đệm, tên; ngày tháng năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; số định danh cá nhân hoặc giấy tờ chứng minh về nhân thân; nơi cư trú cuối cùng. - Thông tin về sự kiện chết: Thời gian chết; nơi chết; nguyên nhân chết (nếu có); giấy tờ chứng minh sự kiện chết. |
Như vậy, có thể thấy, dự thảo Luật Hộ tịch đã đề xuất bổ sung cơ chế đăng ký hộ tịch tự động, chủ động trong khi Luật Hộ tịch 2014 không có quy định về cơ chế này, mà yêu cầu cá nhân hoặc gia đình phải trực tiếp đi đăng ký.