
05 địa phương đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GDP cả nước năm 2025 (Hình từ internet)
Theo Thông cáo báo chí về kết quả tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2025 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố ngày 05/01/2026.
Trong bối cảnh GDP cả nước năm 2025 tăng trưởng khá, đạt 8,02%, tăng trưởng GRDP của các địa phương nhìn chung vận động theo xu hướng chung của nền kinh tế, tiếp tục phục hồi và mở rộng. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng giữa các địa phương còn chưa đồng đều.
Kết quả ước tính cho thấy tốc độ tăng GRDP của các địa phương dao động trong khoảng từ 5,84% đến 11,89%. Phần lớn các địa phương có tốc độ tăng trưởng trên 7% (chỉ có 5 tỉnh có tốc độ tăng trưởng dưới 7%).
Nhóm tỉnh, thành phố có tăng trưởng ổn định từ 7,0% - 10% chiếm đa số (với 23/34 tỉnh, thành phố), phản ánh xu thế phục hồi và mở rộng chung của nền kinh tế, cũng như tác động lan tỏa tương đối đồng đều của các chính sách vĩ mô.
Nhóm tăng trưởng thấp dưới 7% (5/34 tỉnh), cho thấy dù còn khó khăn nhưng không có địa phương nào rơi vào tình trạng tăng trưởng trì trệ.
Các địa phương gồm Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đồng Nai và Bắc Ninh tiếp tục giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GDP cả nước.
Đây là 5 địa phương có quy mô kinh tế lớn nhất cả nước; năm 2025, nhóm này đóng góp đến 55,4% vào tăng trưởng cả nước. TP. Hà Nội đạt mức tăng trưởng GRDP 8,16%, TP. Hồ Chí Minh tăng 7,53%, hai địa phương này đóng góp 36,1 điểm % vào tăng trưởng cả nước.
(1) Thành phố Hà Nội
Tại Hà Nội, khu vực dịch vụ tăng 8,83% (đóng góp khoảng 78,02% trong tăng trưởng tổng giá trị tăng thêm). Khu vực công nghiệp và xây dựng duy trì mức tăng 7,46%, đóng góp 21,09% cho thấy sản xuất và đầu tư xây dựng tiếp tục phục hồi theo hướng ổn định. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,55% và đóng góp 0,89%, là mức tăng cao nhất trong 5 năm gần đây do thành phố tiếp tục cơ cấu lại ngành trồng trọt theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất; mở rộng các vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo quy trình GAP, VietGAP, rau hữu cơ…
(2) Thành phố Hồ Chí Minh
TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 7,53% (nếu loại trừ dầu thô đạt 8,03%). Động lực chính đến từ khu vực dịch vụ với mức tăng 8,76%, đóng góp 65,98% vào tăng trưởng, khẳng định vai trò dẫn dắt của khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của thành phố. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,14%, đóng góp 33,53%, tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong phục hồi sản xuất và mở rộng hạ tầng. Ngược lại, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ tăng 2,36%, với mức đóng góp 0,49%, phản ánh đặc trưng của một đô thị đặc biệt với tỷ trọng nông nghiệp rất nhỏ trong GDP.
(3) Thành phố Hải Phòng
Hải Phòng đạt mức tăng trưởng kinh tế 11,81%, đóng góp 8,58% vào tăng trưởng chung của cả nước, tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định qua nhiều năm. Động lực chính dẫn dắt tăng trưởng kinh tế của Hải Phòng là khu vực công nghiệp và xây dựng, đặc biệt ngành công nghiệp chế biến chế tạo phục hồi mạnh mẽ, tăng 15,93% và đóng góp tới 66,9% vào tăng trưởng. Bên cạnh đó, ngành vận tải và kho bãi tăng 13,11%, đóng góp 15,46%, củng cố vai trò của Hải Phòng như một trung tâm logistics và cảng biển lớn hàng đầu cả nước.
(4) Tỉnh Đồng Nai
Đồng Nai ghi nhận tốc độ tăng GRDP ước đạt 9,63%, đóng góp 5,49% vào tăng trưởng chung của cả nước, tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những địa phương công nghiệp trọng điểm của vùng Đông Nam Bộ. Trong cơ cấu tăng trưởng, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục giữ vai trò chủ lực, tăng11,52%, đóng góp khoảng 67,15% vào mức tăng trưởng của tỉnh.
Nhiều ngành công nghiệp trọng điểm đều tăng trên 10% như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; sản xuất thiết bị điện. Lĩnh vực xây dựng tăng mạnh, gắn với việc đẩy nhanh tiến độ thi công Cảng hàng không quốc tế Long Thành và triển khai nhiều công trình đường giao thông, cấp thoát nước mới. Khu vực dịch vụ tăng 9,39%, đóng góp 28,04% vào tăng trưởng, với sự khởi sắc của các ngành lưu trú, ăn uống; vận tải, kho bãi; hoạt động kinh doanh bất động sản; vui chơi, giải trí do nhu cầu tiêu dùng tăng và các chương trình kích cầu tiều dùng được triển khai rộng rãi.
(5) Tỉnh Bắc Ninh
Sau khi sáp nhập với Bắc Giang, Bắc Ninh trở thành trung tâm công nghiệp chế biến, chế tạo quy mô lớn, có sức cạnh tranh cao trong vùng Đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc. Sự kết hợp này tạo nên lợi thế bổ trợ rõ nét: Bắc Ninh vốn là thủ phủ công nghiệp điện tử với sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Canon, Amkor; trong khi Bắc Giang nổi lên với thế mạnh của công nghiệp hỗ trợ, tốc độ tăng trưởng cao và khả năng thu hút FDI mạnh mẽ vào sản xuất, chế tạo.
Nhờ đó, địa phương hình thành một trung tâm sản xuất đa dạng, quy mô lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Đồng thời, sự hợp nhất mở rộng không gian phát triển, tối ưu hóa nguồn lực và tạo cực tăng trưởng mới, thúc đẩy liên kết vùng theo hướng bền vững. Tăng trưởng GRDP của Bắc Ninh năm 2025 ước đạt 10,3% (đóng góp 5,3% vào tăng trưởng chung cả nước), đứng thứ 5/34 địa phương.
Tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng và xếp hạng của các tỉnh, thành năm 2025:
|
STT |
Tỉnh, thành phố |
Tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng (%) |
Xếp hạng |
|
A |
B |
(1) |
(2) |
|
1 |
Thành phố Hồ Chí Minh |
23,11 |
1 |
|
2 |
Thành phố Hà Nội |
12,94 |
2 |
|
3 |
Thành phố Hải Phòng |
8,58 |
3 |
|
4 |
Tỉnh Đồng Nai |
5,49 |
4 |
|
5 |
Tỉnh Bắc Ninh |
5,32 |
5 |
|
6 |
Tỉnh Quảng Ninh |
3,86 |
6 |
|
7 |
Tỉnh Phú Thọ |
3,82 |
7 |
|
8 |
Tỉnh Ninh Bình |
3,28 |
8 |
|
9 |
Tỉnh Tây Ninh |
2,80 |
9 |
|
10 |
Thành phố Đà Nẵng |
2,52 |
10 |
|
11 |
Tỉnh Hưng Yên |
2,43 |
11 |
|
12 |
Tỉnh Thanh Hoá |
2,33 |
12 |
|
13 |
Tỉnh An Giang |
2,17 |
13 |
|
14 |
Thành phố Cần Thơ |
1,90 |
14 |
|
15 |
Tỉnh Đồng Tháp |
1,83 |
15 |
|
16 |
Tỉnh Nghệ An |
1,71 |
16 |
|
17 |
Tỉnh Lâm Đồng |
1,66 |
17 |
|
18 |
Tỉnh Quảng Ngãi |
1,53 |
18 |
|
19 |
Tỉnh Gia Lai |
1,49 |
19 |
|
20 |
Tỉnh Vĩnh Long |
1,37 |
20 |
|
21 |
Tỉnh Khánh Hoà |
1,20 |
21 |
|
22 |
Tỉnh Đắk Lắk |
1,16 |
22 |
|
23 |
Tỉnh Cà Mau |
1,11 |
23 |
|
24 |
Tỉnh Thái Nguyên |
1,05 |
24 |
|
25 |
Tỉnh Hà Tĩnh |
0,97 |
25 |
|
26 |
Tỉnh Lào Cai |
0,92 |
26 |
|
27 |
Tỉnh Quảng Trị |
0,82 |
27 |
|
28 |
Thành phố Huế |
0,64 |
28 |
|
29 |
Tỉnh Sơn La |
0,53 |
29 |
|
30 |
Tỉnh Tuyên Quang |
0,50 |
30 |
|
31 |
Tỉnh Lạng Sơn |
0,37 |
31 |
|
32 |
Tỉnh Điện Biên |
0,22 |
32 |
|
33 |
Tỉnh Lai Châu |
0,21 |
33 |
|
34 |
Tỉnh Cao Bằng |
0,17 |
34 |
Anh Hào