
Nguyên tắc thanh toán dự án BT bằng ngân sách nhà nước sau đấu giá quỹ đất (Hình từ Internet)
Chính phủ ban hành Nghị định 312/2025/NĐ-CP quy định cơ chế quản lý tài chính dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư và cơ chế thanh toán, quyết toán đối với dự án áp dụng loại hợp đồng BT.
Theo Điều 32 Nghị định 312/2025/NĐ-CP nguyên tắc quản lý, thanh toán ngân sách nhà nước sau đấu giá quỹ đất như sau:
1. Vốn ngân sách nhà nước được thanh toán cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư (trường hợp không thành lập doanh nghiệp dự án) khi cấp có thẩm quyền giao kế hoạch vốn, giao dự toán ngân sách theo quy định của pháp luật.
2. Tổng số vốn nhà nước thanh toán cho dự án BT không được vượt tổng mức đầu tư và các chi phí khác sau giai đoạn xây dựng, trong đó có lãi vay sau giai đoạn xây dựng, lợi nhuận hợp lý của nhà đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
3. Số vốn ngân sách nhà nước giải ngân trong năm của dự án BT không vượt số vốn kế hoạch đầu tư công trong năm đã bố trí cho dự án, số tiền thu được sau đấu giá quỹ đất, tài sản công thực nộp vào ngân sách nhà nước để thanh toán cho dự án BT. Việc hạch toán thu ngân sách nhà nước tiền đấu giá quỹ đất, tài sản công và hạch toán chi ngân sách nhà nước thanh toán dự án BT thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
4. Việc hướng dẫn, thanh toán vốn ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư thực hiện theo quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 6, khoản 7, khoản 9 và khoản 10 Điều 19 Nghị định.
5. Cơ quan được giao quản lý phần vốn ngân sách nhà nước để thanh toán doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng vốn nhà nước đúng mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm, hiệu quả; chấp hành đúng quy định của pháp luật hiện hành; chịu trách nhiệm về giá trị đề nghị thanh toán; đảm bảo tính hợp pháp của các tài liệu trong hồ sơ cung cấp cho Kho bạc Nhà nước và các cơ quan chức năng.
6. Trường hợp số tiền thu được sau đấu giá quỹ đất, tài sản công thấp hơn giá trị quyết toán vốn đầu tư dự án BT hoàn thành, cơ quan ký kết hợp đồng báo cáo cấp có thẩm quyền bố trí ngân sách nhà nước để thanh toán phần chênh lệch giữa giá trị công trình dự án BT và số tiền thu được sau đấu giá quỹ đất, giá trị tài sản công.
Điều kiện thanh toán cho dự án BT ngân sách sau đấu giá quỹ đất
Theo Điều 33 Nghị định 312/2025/NĐ-CP, Điều kiện thanh toán cho dự án BT ngân sách sau đấu giá quỹ đất như sau:
1. Thời gian bố trí vốn ngân sách nhà nước thanh toán cho dự án BT
- Thời gian bố trí vốn đầu tư công, nguồn ngân sách nhà nước thu được sau đấu giá quỹ đất, tài sản công để thanh toán cho dự án BT thuộc thẩm quyền phê duyệt chủ trương của Quốc hội thực hiện theo Nghị quyết của Quốc hội.
- Thời gian bố trí vốn đầu tư công, nguồn vốn ngân sách nhà nước thu được sau đấu giá quỹ đất, tài sản công thanh toán cho dự án BT kể từ thời điểm dự án BT hoàn thành, bàn giao cho Nhà nước không quá 03 năm đối với dự án có tổng mức đầu tư thuộc tiêu chí nhóm A, không quá 02 năm đối với dự án có tổng mức đầu tư thuộc tiêu chí nhóm B, không quá 01 năm đối với dự án có tổng mức đầu tư thuộc tiêu chí nhóm C theo quy định của pháp luật về đầu tư công.
- Trong quá trình triển khai hợp đồng BT, trường hợp cấp có thẩm quyền cân đối được nguồn vốn ngân sách nhà nước thanh toán cho dự án BT sớm hơn so với quy định trong hợp đồng BT đã ký kết mà không làm thay đổi chủ trương đầu tư, mang lại hiệu quả cao hơn về tài chính, kinh tế - xã hội, các bên trong hợp đồng BT được đàm phán, sửa đổi quy định hợp đồng BT về thời gian thanh toán cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư và không phải điều chỉnh kỳ hạn tương ứng lãi suất vốn vay, lãi suất huy động tham khảo trong hợp đồng BT đã ký kết.
2. Hợp đồng BT và phụ lục hợp đồng BT phải có quy định cụ thể về tỷ lệ vốn chủ sở hữu và vốn vay, điều kiện, thời hạn, số lần Nhà nước thanh toán cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư.
3. Nhà nước thanh toán cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư sau khi dự án BT hoặc hạng mục công trình, công trình xây dựng thuộc dự án BT vận hành độc lập được cơ quan ký kết hợp đồng BT cấp xác nhận hoàn thành theo quy định của pháp luật xây dựng hoặc pháp luật khác có liên quan theo quy định và đã được kiểm toán giá trị dự án BT hoàn thành, hạng mục công trình, công trình xây dựng thuộc dự án BT vận hành độc lập hoàn thành.
4. Dự án BT sử dụng nguồn ngân sách nhà nước thu được sau đấu giá quỹ đất, tài sản công được thanh toán khi đã được tổng hợp vào dự toán ngân sách của cơ quan có thẩm quyền.
5. Việc thanh toán lần cuối chỉ thực hiện sau khi dự án BT hoàn thành được cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án BT hoàn thành.
Nội dung hợp đồng dự án BT thanh toán bằng ngân sách nhà nước
Trước đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 257/2025/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện dự án áp dụng loại hợp đồng BT.
Tại Điều 14 Nghị định 257, hợp đồng dự án BT thanh toán bằng ngân sách nhà nước gồm các nội dung theo quy định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và các nội dung sau:
1. Căn cứ sử dụng nguồn vốn đầu tư công đã được bố trí trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm; nguồn ngân sách nhà nước thu được sau đấu giá quỹ đất, tài sản công đã được hạch toán thu, hạch toán chi và cấp có thẩm quyền cho phép sử dụng để thanh toán cho dự án BT.
2. Giá trị thanh toán bằng ngân sách nhà nước (vốn đầu tư công hoặc nguồn ngân sách nhà nước thu được sau đấu giá quỹ đất, tài sản công) cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án (nếu có).
3. Tiến độ hoàn thành hạng mục công trình, công trình dự án BT và chuyển giao công trình dự án BT cho cơ quan có thẩm quyền.
4. Điều kiện thanh toán và trách nhiệm thực hiện thủ tục nghiệm thu khối lượng hoàn thành, quyết toán, nộp hồ sơ đề nghị thanh toán và thực hiện quyết toán hoàn thành công trình dự án BT.
5. Nguyên tắc xử lý khi một trong các bên ký kết hợp đồng vi phạm cam kết về tiến độ xây dựng, thanh toán, chuyển giao công trình dự án BT dẫn đến phát sinh chi phí lãi vay, chi phí phát sinh khác (nếu có) theo quy định của pháp luật.