
Những chính sách mới về tiền lương, thuế với người lao động có hiệu lực từ 2026 (Hình từ internet)
Ngày 10/11/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
Theo đó, chính thức tăng lương tối thiểu vùng lên 7,2% từ ngày 01/01/2026. Cụ thể Điều 3 Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định như sau:
Quy định mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ đối với người lao động làm việc cho người sử dụng lao động theo vùng như sau:
|
Vùng |
Mức lương tối thiểu tháng (đồng/tháng) Đến 31/12/2025 |
Mức lương tối thiểu giờ (đồng/giờ) Đến 31/12/2025 |
Mức lương tối thiểu tháng (đồng/tháng) Từ 01/01/2026 |
Mức lương tối thiểu giờ (đồng/giờ) Từ 01/01/2026 |
|
Vùng I |
4.960.000 |
23.800 |
5.310.000 |
25.500 |
|
Vùng II |
4.410.000 |
21.200 |
4.730.000 |
22.700 |
|
Vùng III |
3.860.000 |
18.600 |
4.140.000 |
20.000 |
|
Vùng IV |
3.450.000 |
16.600 |
3.700.000 |
17.800 |
- Danh mục địa bàn vùng I, vùng II, vùng III, vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP.
- Việc áp dụng địa bàn vùng được xác định theo nơi hoạt động của người sử dụng lao động như sau:
+ Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn thuộc vùng nào thì áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó.
+ Người sử dụng lao động có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào, áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó.
+ Người sử dụng lao động hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung nằm trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất.
+ Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn có sự thay đổi tên hoặc chia thì tạm thời áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn trước khi thay đổi tên hoặc chia cho đến khi Chính phủ có quy định mới.
+ Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn được thành lập mới từ một địa bàn hoặc nhiều địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng mức lương tối thiểu theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất cho đến khi Chính phủ có quy định mới.
Như vậy, từ ngày 01/01/2026, mức lương tối thiểu vùng sẽ được tăng lên 7,2% so với quy định cũ.
(1) Bác sĩ, dược sĩ được xếp lương từ bậc 2 khi tuyển dụng
Theo Điều 3 Nghị quyết 261/2025/QH15, bác sĩ y khoa, bác sĩ y học cổ truyền, bác sĩ răng hàm mặt, bác sĩ y học dự phòng và dược sĩ khi được tuyển dụng vào chức danh nghề nghiệp tương ứng được xếp lương từ bậc 2, thay vì bậc 1 như quy định hiện hành.
Quy định này được áp dụng cho đến khi có quy định mới về tiền lương, qua đó giúp nâng mức thu nhập khởi điểm cho đội ngũ bác sĩ, dược sĩ, nhất là trong bối cảnh ngành y đang gặp nhiều khó khăn về nhân lực.
(2) Lương của giáo viên được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương
Theo đó tại Điều 23 Luật Nhà giáo 2025 quy định về tiền lương và phụ cấp đối với nhà giáo
- Tiền lương và phụ cấp đối với nhà giáo ở cơ sở giáo dục công lập được quy định như sau:
+ Lương của nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp;
+ Phụ cấp ưu đãi nghề và phụ cấp khác theo tính chất công việc, theo vùng theo quy định của pháp luật;
+ Nhà giáo cấp học mầm non; nhà giáo công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; nhà giáo dạy trường chuyên biệt; nhà giáo thực hiện giáo dục hòa nhập; nhà giáo ở một số ngành, nghề đặc thù được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp cao hơn so với nhà giáo làm việc trong điều kiện bình thường.
- Tiền lương của nhà giáo trong cơ sở giáo dục ngoài công lập thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động.
- Nhà giáo công tác ở ngành, nghề có chế độ đặc thù thì được hưởng chế độ đặc thù theo quy định của pháp luật và chỉ được hưởng ở một mức cao nhất nếu chính sách đó trùng với chính sách dành cho nhà giáo.
Như vậy, từ ngày 01/01/2026, nhà giáo sẽ được xếp lương cao nhất trong khối hành chính sự nghiệp (đối với nhà giáo ở cơ sở giáo dục công lập).
Từ ngày 01/01/2026, Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15 điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành, bắt đầu có hiệu lực thi hành.
Theo đó, điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 như sau:
- Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
- Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026 và áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Đồng thời, quy định về giảm trừ gia cảnh cũng được cập nhật trong Luật mới (Điều 10 Luật Thuế TNCN 2025).
Như vậy, từ ngày 01/01/2026, mức giảm trừ gia cảnh tăng lên 15,5 triệu đồng (so với mức trước đây là 11 triệu đồng), còn mức giảm trừ cho người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng.
Với mức giảm trừ gia cảnh mới, cá nhân không có người phụ thuộc có thu nhập 17 triệu/tháng (sau khi trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc) sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân kể từ năm 2026.
Luật Việc làm 2025 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, trong đó có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng liên quan đến quyền lợi của doanh nghiệp và người lao động.
Theo đó, người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa bằng 1% tiền lương tháng, người sử dụng lao động đóng tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp, nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Luật Việc làm 2025 quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại tháng cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Như vậy, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa theo luật mới không còn phân biệt người lao động thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định với người lao động ngoài nhà nước như quy định hiện hành. Mức hưởng tối đa được áp dụng chung cho toàn thể người lao động.