
Dấu hiệu sai sót và gian lận khi thực hiện dự án PPP theo quy định mới nhất (Hình từ Internet)
Tổng Kiểm toán Nhà nước ban hành Quyết định 04/QĐ-KTNN năm 2026 về Hướng dẫn kiểm toán dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
Theo đó, một số dấu hiệu sai sót và gian lận khi thực hiện dự án PPP theo quy định gồm:
1. Công tác lập, thẩm tra, thẩm định phê duyệt dự án đầu tư, điều chỉnh dự án đầu tư
- Quy mô dự án, vốn chủ sở hữu nhà đầu tư và vốn nhà nước tham gia thực hiện dự án tại bước lập, thẩm định phê duyệt Dự án không phù hợp với quy định tại bước lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư.
- Đầu tư xây dựng các trạm thu phí chưa phù hợp với quy định của Thủ tướng Chính phủ về việc thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử không dừng.
- Các thông tin, thông số làm căn cứ lập dự án đầu tư không hợp lý: Các chỉ số về kinh tế, thị trường; các thông số về môi trường (nước thải, tiếng ồn, ô nhiễm, vv); các chỉ số kỹ thuật (mức độ chịu bão, gió, mưa, động đất, vv); các tiêu chuẩn kỹ thuật không phù hợp (độ bền, tuổi thọ, chất lượng vật liệu, ...).
- Chưa xem xét tất cả các phương án đầu tư có thể có để có sự lựa chọn tối ưu.
- Lựa chọn địa điểm đầu tư không hợp lý, theo ý chủ quan chưa tính đến các yếu tố liên quan (địa chất, giao thông, nguồn nguyên liệu, thị trường, nguồn nhân lực, ...).
- Lựa chọn công nghệ không theo tiêu chí so sánh chi phí - hiệu quả, không đảm bảo tính đồng bộ, không nêu rõ các tiêu chuẩn, đặc tính và thông số kinh tế kỹ thuật của thiết bị.
- Tính toán lập dự án không xem xét đến điều kiện thực tế về hạ tầng hiện có như điện, nước, thoát nước, ...
- Lựa chọn giải pháp xây dựng chưa lưu ý đến sự lạc hậu về công nghệ và tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
- Công tác lập, thẩm tra, thẩm định, phê duyệt dự án không đúng về trình tự, thẩm quyền và thời gian.
- Tài liệu điều tra thăm dò thị trường, nguồn vật liệu, động lực, môi sinh, môi trường, phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, nguồn vốn đầu tư, … không đầy đủ.
- Những công việc tư vấn chưa có quy định về định mức chi phí nhưng không lập, duyệt dự toán hoặc lập, duyệt với đơn giá cao.
- Dự án không phù hợp với quy hoạch ngành, quy hoạch vùng.
- Phê duyệt dự án chưa xác định được cụ thể nguồn vốn, không xác định cụ thể khả năng bố trí và thanh toán vốn theo tiến độ.
- Các căn cứ để điều chỉnh dự án đầu tư chưa phù hợp với quy định hoặc thực tế, việc điều chỉnh tổng mức đầu tư thiếu căn cứ, trình tự thực hiện điều chỉnh dự án đầu tư không phù hợp với quy định hoặc không đúng thẩm quyền.
- Xác định tổng mức đầu tư không chính xác và không đủ cơ sở, chưa xác định rõ nguồn vốn bố trí cho phần tăng tổng mức đầu tư điều chỉnh; xác định chi phí GPMB trong TMĐT không đủ hồ sơ, căn cứ; chưa dự báo sát tình hình thực tế dẫn đến phải điều chỉnh cắt giảm quy mô một số hạng mục, dự án; áp dụng suất đầu tư chưa phù hợp, thiết kế cơ sở chưa loại trừ các hạng mục không cần thiết, các giao cắt dẫn đến phải điều chỉnh TMĐT.
- Không thuyết minh được về hiệu quả đầu tư, sự cần thiết phải đầu tư theo hình thức BT; phê duyệt dự án đầu tư khi chưa có ý kiến thẩm định của cơ quan chức năng; không làm rõ được nguồn vốn hợp pháp khác; Lập TMĐT chưa chính xác dẫn đến ký kết hợp đồng BT chưa phù hợp, chưa đầy đủ cơ sở; phê duyệt chi phí dự án chưa phù hợp với biện pháp thi công, thiếu chi phí giải phóng mặt bằng.
2. Công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán
- Khảo sát thiếu chính xác dẫn tới phương án thiết kế không phù hợp, thiết kế, bố trí dây chuyền công nghệ không hợp lý.
- Thiết kế không đầy đủ, chưa lường hết được các phạm vi khối lượng công việc cần thiết dẫn tới phát sinh khối lượng lớn phải giao thầu bổ sung làm chậm tiến độ và vượt dự toán chi phí.
- Thiết kế trang thiết bị kỹ thuật và thiết kế xây dựng không có sự phối hợp đồng bộ.
- Nội dung hồ sơ thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công không đầy đủ theo quy định, sai lệch về quy mô, công nghệ, công suất, cấp công trình, diện tích đất sử dụng, … so với quyết định đầu tư.
- Vận dụng sai định mức, đơn giá, xác định đơn giá đối với những công việc chưa có quy định về định mức, đơn giá thiếu căn cứ; tính toán sai khối lượng, tính toán thừa hoặc thiếu khối lượng công tác thi công.
- Dự toán chi phí chưa chính xác do thông tin chưa đầy đủ, thiếu cẩn thận trong tính toán hoặc chủ ý lập dự toán thấp để dự án dễ được phê duyệt và khi đã thi công sẽ đề nghị duyệt kinh phí bổ sung để hoàn thành; ngược lại, lập dự toán cao để có nguồn kinh phí mua sắm những trang thiết bị đắt tiền.
- Dự toán bị cắt giảm chưa rõ nguyên nhân trong quá trình thẩm định và phê duyệt, sau này lại phải duyệt bổ sung.
- Dự toán chi phí khối lượng phát sinh được lập muộn, thậm chí khi đã thi công xong hạng mục, vì vậy không có tác dụng đối với việc quản lý chi phí.
- Dự toán còn sai sót về khối lượng, áp dụng sai định mức, đơn giá tại hầu hết các công trình; thiết kế bản vẽ thi công chưa chi tiết, chưa đảm bảo tính thống nhất, chưa phù hợp với thực tế dẫn tới phải điều chỉnh bổ sung trong quá trình thực hiện; chưa có sự tính toán, so sánh để đảm bảo tiết kiệm chi phí trong đầu tư; hồ sơ dự toán, thiết kế còn sơ sài, thiếu sót.
3. Công tác nghiệm thu, thanh quyết toán, đưa công trình vào khai thác, sử dụng
- Nghiệm thu, thanh toán sai quy định của hợp đồng; thanh toán khối lượng chưa thi công.
- Hồ sơ nghiệm thu, hoàn công không đầy đủ, không đúng với thực tế thi công.
- Báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành chưa lập hoặc lập không đúng quy định.
- Không bàn giao, hoặc bàn giao không đầy đủ hồ sơ phục vụ quản lý, vận hành và bảo trì công trình cho đơn vị sở hữu, vận hành, quản lý sử dụng công trình.
- Khi áp dụng cơ chế đặc thù cho dự án, chưa tính toán lại việc ảnh hưởng đến chi phí đầu tư thực hiện.
4. Công tác quản lý chất lượng
- Sai sót trong khảo sát, thiết kế làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình.
- Thi công không đảm bảo quy trình kỹ thuật và yêu cầu của dự án; sử dụng nguyên vật liệu không đúng tiêu chuẩn dự án, ...
- Quản lý thi công không tốt, không phát hiện và kịp thời xử lý sai sót làm ảnh hưởng tới chất lượng.
- Hồ sơ quản lý chất lượng thiếu, không đầy đủ, nhật ký công trình ghi sơ sài, không đầy đủ diễn biến phát sinh và sự cố trong quá trình thi công, …
- Khối lượng phát sinh không có thiết kế, dự toán phê duyệt bổ sung, sửa đổi.
- Thi công sai thiết kế, biện pháp thi công được phê duyệt.
- Không chấp hành đúng quy định về giám sát thi công, giám sát quyền tác giả của tư vấn thiết kế.
- Hồ sơ nghiệm thu, hồ sơ quản lý chất lượng công trình không đầy đủ: thiếu biên bản nghiệm thu từng phần, chưa đầy đủ nghiệm thu vật liệu đầu vào, thiếu hồ sơ xuất xứ, hợp quy, chất lượng của các vật tư, thiết bị đặc biệt là của thiết bị nhập khẩu, ...
5. Công tác quản lý tiến độ
- Tiến độ các gói thầu không phù hợp với tiến độ phê duyệt dự án, phê duyệt chủ trương đầu tư.
- Chủ đầu tư, đơn vị giám sát không theo dõi, ghi nhận cụ thể về nguyên nhân (chủ quan, khách quan) khi xảy ra việc chậm tiến độ thi công.
6. Nguồn vốn đầu tư
- Hạch toán không đầy đủ nguồn vốn, áp dụng sai tỷ giá sai thời điểm dẫn đến sai lệch số dư nguồn vốn trên báo cáo của đơn vị so với số liệu của cơ quan cấp, cho vay vốn.
- Các nguồn vốn bị phân loại một cách sai lệch.
- Nguồn vốn sử dụng không đúng nguyên tắc tài chính và quyết định đầu tư.
- Nguồn vốn sử dụng không đúng mục đích.
7. Kiểm tra hiện trường
- Kích thước hình học một số cấu kiện, mặt cắt dọc, mặt cắt ngang,..chiều dày các lớp vật liệu (nền, móng, lớp đắp,...) không phù hợp với hồ sơ thiết kế kỹ thuật, hồ sơ hoàn công.
- Một số hạng mục, công trình không được thi công như trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật, hồ sơ hoàn công.
8. Một số sai sót khác
- Khó khăn, vướng mắc trong công tác GPMB, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án; công tác đền bù GPMB chậm làm phát sinh tăng chi phí đền bù; áp dụng không đúng các văn bản dẫn đến chi trả sai quy định tại một số dự án; chi trả tiền đền bù, giải phóng mặt bằng cho hộ dân không thuộc dự án BT mà thuộc dự án khác.
- Nhiều dự án PPP đưa vào phương án tài chính một số nội dung chưa có quy định để tính thời gian hoàn vốn, lập phương án tài chính còn thiếu sót, tỷ lệ lợi nhuận giữa các dự án và các nhà đầu tư còn chênh lệch lớn; xác định lãi vay chưa chính xác; Nhà đầu tư chưa huy động đủ nguồn vốn chủ sở hữu theo phương án tài chính; vị trí đặt một số trạm thu phí chưa phù hợp, không đảm bảo khoảng cách tối thiểu; thực hiện thu phí hoàn vốn trước thời điểm dự án hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng, …
- Việc ký kết và thực hiện hợp đồng BT còn có những bất cập: việc khái toán chi phí đầu tư, TMĐT của một số dự án chưa sát, phải điều chỉnh trong quá trình thực hiện dự án nhưng các bên chưa điều chỉnh giá trị hợp đồng BT để xác định nghĩa vụ tài chính liên quan và kịp thời nộp NSNN; điều chỉnh cơ cấu chi phí trong TMĐT nhưng chưa kịp thời điều chỉnh giá trị hợp đồng theo cơ cấu chi phí trong TMĐT điều chỉnh dẫn tới giá trị điều chỉnh hợp đồng không đúng; các bên chưa tiến hành ký kết Phụ lục Hợp đồng BT sau khi có thiết kế BVTC, dự toán được duyệt và sau khi có quyết định giao đất thanh toán theo quy định; chưa ký Phụ lục hợp đồng phân kỳ đầu tư Dự án để làm cơ sở thanh, quyết toán công trình; việc thanh toán hợp đồng BT cho nhà đầu tư của một số địa phương còn chậm, chưa đúng tiến độ cam kết và chưa đảm bảo đủ theo giá trị hợp đồng BT đã hoàn thành làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các nhà đầu tư; thanh toán bằng quỹ đất cho nhà đầu tư không đảm bảo nguyên tắc ngang giá…
Xem thêm tại Quyết định 04/QĐ-KTNN năm 2026.