
Nghị quyết 12/NQ-CP thực hiện Kết luận 115-KL/TW và Nghị quyết 39-NQ/TW nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy cáс nguồn lực của nền kinh tế
Chính phủ đã có Nghị quyết 12/NQ-CP năm 2026 thực hiện Kết luận 115-KL/TW năm 2025 và Nghị quyết 39-NQ/TW năm 2019 nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy cáс nguồn lực của nền kinh tế.
Mục đích, yêu cầu khi thực hiện nghị quyết như sau:
1. Tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nội dung của Kết 115-KL/TW ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Bộ Chính trị khóa XII về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế (sau đây viết gọn là Kết luận số 115-KL/TW). Xác định các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Chính phủ nhằm quán triệt và chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chức thực hiện Kết luận số 115-KL/TW.
2. Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 115-KL/TW của Chính phủ đến năm 2030 làm căn cứ để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, chương trình, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Kết luận số 115-KL/TW và Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Bộ Chính trị khóa XII về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.
3. Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 115-KL/TW của Chính phủ đến năm 2030 bao gồm các nhiệm vụ đề ra trong các kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế đã được phê duyệt và xây dựng, triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, kế hoạch, chương trình, đề án mới đến năm 2030.
4. Đến năm 2030, phấn đấu đạt một số mục tiêu cụ thể sau:
(i) Đối với nguồn nhân lực
- Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt khoảng 8,5%/năm. Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 20%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 35 - 40%. Tỷ lệ người dân trong độ tuổi lao động được đào tạo kỹ năng số cơ bản đạt trên 80%, có khả năng cung cấp nguồn nhân lực công nghệ số chất lượng cao cho khu vực và thế giới. Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực phi chính thức giảm xuống dưới 40% Tỷ lệ thất nghiệp chung dưới 3%.
- Bảo đảm vững chắc mức sinh thay thế của quốc gia. Tuổi thọ bình quân đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,78.
(ii) Đối với nguồn vật lực
- Đến năm 2030, hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mộ lớn, kết nối với khu vực và thế giới.
Đạt được các chỉ tiêu về sử dụng hiệu quả tài nguyên (đất, nước, khoáng sản), tái sử dụng, tái chế chất thải tương đương với các nước dẫn đầu ASEAN. Giảm tiêu hao năng lượng tỉnh trên đơn vị GDP ở mức 1 - 1,5%/năm.
c) Đối với nguồn tài lực
- Bảo đảm an toàn, an ninh tài chính quốc gia. Nợ công, nợ chính phủ, ng nước ngoài của quốc gia nằm trong ngưỡng an toàn theo quy định của Quốc hội.
- Tổng đầu tư xã hội bình quân 5 năm đạt khoảng 40% GDP, tỷ lệ đầu tư công chiếm 20 - 22% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu 58% GDP. Quy mô doanh thu của ngành bảo hiểm đạt 3,3 - 3,5% GDP. Tổng mức dự trữ quốc gia đạt 0,5% GDP.
(iv) Đối với các nguồn lực quan trọng khác
- Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên 55%, Chỉ số hiệu quả môi trường (EPI) đạt trên 55. Phấn đấu thuộc nhóm 50 quốc gia đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số. Kinh tế dữ liệu tăng gấp 3 lần tăng trưởng GDP. Tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Tỷ trọng công nghiệp công nghệ số trong GDP tối thiểu 8%. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt trên 45%.
Số lượng doanh nghiệp được xếp vào danh sách doanh nghiệp có giá trị thương hiệu cao nhất của các tổ chức xếp hạng uy tin trên thế giới tăng 10% mỗi năm. Tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số đạt tương đương các nước phát triển.
- Phấn đấu đến năm 2030, tổng thu du lịch khoảng 13 - 14% GDP.