
Dự thảo Luật Hộ tịch (sửa đổi): Đề xuất bổ sung quy định về nội dung đăng ký kết hôn (Hình từ Internet)
Theo quy định tại Điều 20 dự thảo Luật Hộ tịch (sửa đổi) thì Bộ Tư Pháp đã đề xuất sửa đổi quy định về nội dung đăng ký kết hôn như sau:
- Nội dung đăng ký kết hôn gồm:
+ Họ, chữ đệm, tên; ngày tháng năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú; số định danh cá nhân của công dân Việt Nam; thông tin về giấy tờ chứng minh về nhân thân của hai bên nam, nữ.
+ Ngày tháng năm đăng ký kết hôn; ngày tháng năm xác lập quan hệ hôn nhân.
+ Chữ ký của hai bên nam, nữ.
- Nội dung đăng ký kết hôn quy định tại khoản 1 Điều 20 dự thảo Luật Hộ tịch (sửa đổi) được ghi vào Sổ đăng ký kết hôn, Giấy chứng nhận kết hôn, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch.
Còn theo quy định hiện hành thì quy định về về nội dung đăng ký kết hôn được quy định tại Điều 17 Luật Hộ tịch 2014 như sau:
“Điều 17. Thẩm quyền đăng ký kết hôn và nội dung Giấy chứng nhận kết hôn
1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn.
2. Giấy chứng nhận kết hôn phải có các thông tin sau đây:
a) Họ, chữ đệm và tên; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú; thông tin về giấy tờ chứng minh nhân thân của hai bên nam, nữ;
b) Ngày, tháng, năm đăng ký kết hôn;
c) Chữ ký hoặc điểm chỉ của hai bên nam, nữ và xác nhận của cơ quan đăng ký hộ tịch.
Theo đó, thủ tục đăng ký kết hôn đang được Bộ Tư pháp đề xuất sửa đổi tại Điều 21 dự thảo Luật Hộ tịch (sửa đổi) với nội dung như sau:
- Hai bên nam, nữ nộp hồ sơ đăng ký kết hôn theo phương thức quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 11 dự thảo Luật Hộ tịch (sửa đổi).
- Ngay sau khi tiếp nhận yêu cầu đăng ký kết hôn theo quy định, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm khai thác dữ liệu điện tử, tra cứu thông tin trong cơ sở dữ liệu liên quan để giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn.
- Nếu thấy hai bên nam, nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, phù hợp quy định pháp luật, công chức hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký cấp Giấy chứng nhận kết hôn và thông báo cho hai bên nam, nữ có mặt tại trụ sở cơ quan đăng ký hộ tịch để nhận Giấy chứng nhận kết hôn.
Khi trao Giấy chứng nhận kết hôn, cơ quan đăng ký hộ tịch kiểm tra giấy tờ tùy thân, khẳng định việc hai bên nam, nữ đủ điều kiện và tự nguyện kết hôn, ghi nội dung đăng ký kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch, hướng dẫn hai bên nam, nữ ký vào Sổ đăng ký kết hôn, Giấy chứng nhận kết hôn, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm này. Mỗi bên vợ, chồng được nhận 01 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.
Việc đăng ký kết hôn chỉ có giá trị pháp lý khi Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ đăng ký kết hôn có đủ chữ ký của hai bên.
- Nếu hai bên nam, nữ không có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn trong thời hạn pháp luật quy định thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn, có văn bản thông báo cho hai bên nam, nữ.
- Chính phủ quy định chi tiết thành phần hồ sơ, thời hạn, trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết việc đăng ký kết hôn, trao Giấy chứng nhận kết hôn.
Trên đây là bài viết về “Dự thảo Luật Hộ tịch (sửa đổi): Đề xuất bổ sung quy định về nội dung đăng ký kết hôn”
Xem thêm tại dự thảo Luật Hộ tịch (sửa đổi) bỏ 34 điều, sửa đổi 31 điều Luật Hộ tịch 2014.