Nội dung mới được sửa đổi tại Luật Quản lý thuế 2025 (Luật số 108/2025/QH15)

24/01/2026 09:37 AM

Luật Quản lý thuế 2025 (Luật số 108/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 với một số nội dung mới được sửa đổi.

Nội dung mới được sửa đổi tại Luật Quản lý thuế 2025 (Luật số 108/2025/QH15)

Nội dung mới được sửa đổi tại Luật Quản lý thuế 2025 (Luật số 108/2025/QH15) (Hình từ Internet)

Nội dung mới được sửa đổi tại Luật Quản lý thuế 2025 (Luật số 108/2025/QH15)

Theo Tài liệu giới thiệu Luật Quản lý thuế 2025 được đăng tải tại Cổng TTĐT Phổ biến, giáo dục pháp luật quốc gia thì sau đây là nội dung mới được sửa đổi, bổ sung tại Luật Quản lý thuế 2025:

Tài liệu giới thiệu Luật Quản lý thuế 2025

* Về đối tượng áp dụng (Điều 2):

- Sửa đổi, bổ sung về tên cơ quan quản lý thuế mang tính bao quát, bao gồm cơ quan thuế và cơ quan hải quan (khoản 2 Điều 2) cho phù hợp với tổ chức bộ máy mới sau sắp xếp. Giao Chính phủ quy định chi tiết khoản này để tại Nghị định sẽ quy định cụ thể về cơ quan thuế thuộc Cục Thuế, cơ quan hải quan thuộc Cục Hải quan. 

- Bổ sung quy định rõ người nộp thuế là: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam là người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác là người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế” (điểm b, c khoản 1 Điều 2) để bao quát các đối tượng phát sinh theo quy định tại các Luật thuế (Luật Thuế GTGT, Luật Thuế TNDN).

- Sửa đổi quy định: “Tổ chức, cá nhân thực hiện khấu trừ, nộp thay số thuế đã khấu trừ của người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật quản lý thuế và pháp luật khác.” (điểm đ khoản 1 Điều 2) để bao quát các trường hợp khấu trừ tại nguồn (tổ chức chi trả thu nhập theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân, nhà quản lý nền tảng số, nền tảng thương mại điện tử có chức năng thanh toán là người nộp thuế theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và các trường hợp nộp thuế khi thực hiện các hoạt động kinh tế mới trong giao dịch tài sản số được quy định tại các pháp luật khác).

* Về phân nhóm người nộp thuế trong quản lý thuế (Điều 3): Để phù hợp với yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hiện đại hóa công tác quản lý thuế, chuyển từ mô hình quản lý thủ công, dàn trải sang mô hình quản lý theo rủi ro và tuân thủ, phù hợp với định hướng của Đảng, Nhà nước về cải cách hành chính, chuyển đổi số và tối ưu hóa nguồn lực công, theo khuyến nghị của OECD và để thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế trên cơ sở phân loại mức độ tuân thủ pháp luật và mức độ rủi ro của người nộp thuế, bổ sung mới Điều 3 quy định về phân nhóm người nộp thuế. Cơ quan thuế sẽ thực hiện phân nhóm người nộp thuế căn cứ theo các tiêu chí được quy định cụ thể tại Luật như ngành nghề, lĩnh vực, đặc thù, phương thức hoạt động; loại hình pháp lý, cơ cấu sở hữu; quy mô hoạt động, quy mô doanh thu, số nộp ngân sách; mức độ tuân thủ và lịch sử tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế; các tiêu chí khác theo quy định của Bộ Tài chính để xác định chế độ ưu tiên đối với người nộp thuế trong quản lý thuế, phân bổ nguồn lực quản lý.

* Về giải thích từ ngữ (Điều 4): Nhằm đảm bảo tính bao quát, thống nhất và cập nhật với thực tiễn quản lý thuế trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế số, thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cần sửa đổi, bổ sung một số khái niệm để đáp ứng yêu cầu quản lý hiện đại, bảo đảm tính minh bạch, chính xác, phù hợp với thực tế, phù hợp với thông lệ quốc tế và thuận lợi cho tổ chức thực hiện, cụ thể:

- Sửa đổi giải thích một số thuật ngữ như: Thuế, Khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu, Khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước không do cơ quan quản lý thuế quản lý thu để tách bạch giữa “thuế” và “khoản thu khác”, theo đó, chỉnh lý bổ sung cụm từ “khoản thu khác” vào nội dung giải thích từ ngữ đối với: Tiền thuế nợ; Kỳ tính thuế, khoản thu khác; Hồ sơ thuế; Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; nguyên tắc bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế và bổ sung thêm cụm từ “khoản thu khác” tại 16 Điều (gồm: Điều 6, Điều 8, Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 33, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 42);

- Sửa đổi giải thích một số thuật ngữ: Hệ thống thông tin quản lý thuế; Mã số thuế; Hồ sơ đăng ký thuế; Quản lý rủi ro trong quản lý thuế; Cơ sở dữ liệu thương mại; Các bên có quan hệ liên kết; Nguyên tắc giao dịch độc lập;

- Bổ sung, chuyển một số thuật ngữ xuống các Điều liên quan như: Thủ tục thỏa thuận song phương (MAP) và Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) (xuống khoản 2 Điều 30); Mã định danh khoản phải nộp (khoản 2 Điều 14); Nguyên tắc bản chất kinh tế của hoạt động, giao dịch phát sinh quyết định nghĩa vụ thuế (xuống khoản 4 Điều 6).

* Về nội dung quản lý thuế (Điều 5): Để phù hợp với việc chuyển sang quản lý thuế theo đối tượng người nộp thuế trên cơ sở phân nhóm rủi ro và tuân thủ, đồng thời kết hợp với chức năng nghiệp vụ để triển khai linh hoạt, hiệu quả các biện pháp quản lý phù hợp với từng nhóm đối tượng, phù hợp với phương thức quản lý thuế hiện đại, phù hợp với xu hướng quốc tế và điều kiện thực tiễn tại Việt Nam: (i) Bổ sung quy định cơ quan thuế thực hiện quản lý thuế theo phân nhóm người nộp thuế; (ii) Bổ sung nội dung quản lý thuế gồm: quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ.

* Về nguyên tắc quản lý thuế (Điều 6): Để nhấn mạnh đầy đủ yếu tố “lấy người nộp thuế làm trung tâm” và quản lý thuế theo thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện của Việt Nam; quản lý thuế dựa trên rủi ro và tuân thủ cần sửa đổi, bổ sung nguyên tắc mới để điều chỉnh toàn diện các hoạt động quản lý, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế số, giao dịch xuyên biên giới và yêu cầu bảo vệ quyền NNT, cụ thể:

- Sửa đổi nguyên tắc quản lý thuế phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, bình đẳng, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước (khoản 1 Điều 6);

- Bổ sung quy định người nộp thuế tự xác định nghĩa vụ thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước phải nộp, tự kê khai thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước và tự nộp thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có liên quan, trừ trường hợp do cơ quan quản lý thuế tính thuế, khoản thu khác, thông báo thuế, khoản thu khác theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 6); bổ sung nguyên tắc quản lý tuân thủ (khoản 4 Điều 6).

* Về bảo mật, công khai thông tin người nộp thuế (Điều 7): Nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế về việc được bảo mật thông tin theo quy định, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được cung cấp thông tin, bổ sung quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân được cơ quan quản lý thuế cung cấp thông tin theo các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan quản lý thuế, các cơ quan nhà nước khác, tổ chức có liên quan trong nước và ngoài nước khi thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm cung cấp, chia sẻ, trao đổi thông tin người nộp thuế phục vụ công tác quản lý thuế theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật này phải sử dụng thông tin đúng mục đích và bảo mật thông tin theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan (khoản 4 Điều 7).

* Các hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế (Điều 8): Sửa đổi, bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm để phù hợp với quy định pháp luật về hóa đơn, chứng từ, phù hợp với các trường hợp phát sinh trong thực tế, cụ thể:

- Sửa đổi các hành vi: gian lận, trục lợi tiền thuế, tiền ngân sách nhà nước. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tiết lộ hoặc làm rò rỉ thông tin người nộp thuế trái quy định. Làm sai lệch kết quả kiểm tra, xử lý vi phạm thuế (khoản 1 Điều 8); Chống đối, trì hoãn, không cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ kiểm tra, giám sát thuế, khoản thu khác (khoản 2 Điều 8); Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không lập hóa đơn theo quy định của pháp luật, sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp và sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ, làm giả hóa đơn, chứng từ để thực hiện hành vi trái pháp luật (khoản 4 Điều 8); Cung cấp, phát tán thông tin sai lệch gây ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động của cơ quan quản lý thuế, hệ thống thông tin quản lý thuế, người nộp thuế (khoản 5 Điều 8).

- Bổ sung hành vi: Tạo lập hóa đơn, chứng từ điện tử trái phép hoặc phục vụ hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý thuế (khoản 4 Điều 8).

Xem thêm tại Tài liệu giới thiệu Luật Quản lý thuế 2025:

Tài liệu giới thiệu Luật Quản lý thuế 2025

 

Chia sẻ bài viết lên facebook 13

Các tin khác
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn
Đơn vị chủ quản: Công ty cổ phần LawSoft. Giấy phép số: 32/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 15/05/2019 Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3935 2079