
Công văn 492/BTĐKT-P.I hướng dẫn Luật Thi đua khen thưởng và Nghị định 152/2025
Công văn 492/BTĐKT-P.I ngày 2/3/2026, Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương nhận được Công văn số 236/VP-THTK ngày 31/01/2026 của Văn phòng Bộ Nội vụ về việc trả lời phản ánh kiến nghị của người dân, doanh nghiệp, sau khi nghiên cứu Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương có ý kiến như sau:
1. Câu hỏi trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nội vụ (Ý kiến số 19)
Nội dung: Khen thưởng đột xuất, chuyên đề, công trạng
Tại khoản 3 Điều 4 Nghị định số 152/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng quy định:
"Điều 4. Nguyên tắc xét danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng
3. Kết quả khen thưởng thành tích đột xuất, thi đua theo chuyên đề không dùng làm căn cứ để đề nghị cấp trên khen thưởng công trạng."
Kính đề nghị quý Bộ xem xét có ý kiến, giải thích cụ thể "khen thưởng đột xuất", "khen thưởng chuyên đề", "khen thưởng công trạng"
Ví dụ: cá nhân công tác Đoàn cấp huyện trước đây (chuyên trách) được tặng Bằng khen Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thì khen thưởng này là khen thưởng chuyên đề hay đột xuất hay công trạng?
Trả lời
Căn cứ khoản1, 2, 3 Điều 8 Luật Thi đua, khen thưởng quy định:
1. Khen thưởng công trạng là khen thưởng cho cá nhân, tập thể thường xuyên có thành tích xuất sắc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Khen thưởng đột xuất là khen thưởng kịp thời cho cá nhân, tập thể, hộ gia đình lập được thành tích xuất sắc đột xuất.
3. Khen thưởng phong trào thi đua là khen thưởng cho cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua do cấp có thẩm quyền phát động, chỉ đạo trong thời gian cụ thể hoặc thi đua theo chuyên đề phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước.
Khoản 1, Điều 83 Luật Thi đua - Khen thưởng quy định: “Danh hiệu thi đua được bình xét và đề nghị từ đơn vị cơ sở thuộc cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác. Cấp quản lý về tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, quỹ lương... có trách nhiệm xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng hoặc trình cấp có thẩm quyền xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý”.
Căn cứ các quy định nêu trên, cá nhân công tác tại Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cấp huyện (chuyên trách) trước kia thuộc quản lý của địa phương, do đó việc khen thưởng và đề nghị khen thưởng công trạng do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh thực hiện. Vì vậy, Bằng khen của Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đối với cá nhân nêu trên không phải là khen thưởng công trạng.
2. Câu hỏi thuộc phạm vi trả lời của Bộ Nội vụ trên Cổng dịch vụ công Quốc gia (ý kiến số 12).
Nội dung: Về việc hướng dẫn, giải thích rõ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 74, Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022.
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 74 Luật Thi đua, khen thưởng quy định tiêu chuẩn Bằng khen của Bộ, ban, ngành, tỉnh là có 02 lần liên tục được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” hoặc có liên tục từ 02 năm trở lên được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trong thời gian đó có 02 sáng kiến được công nhận và áp dụng có hiệu quả trong phạm vi cơ sở hoặc có 02 đề tài khoa học, đề án khoa học, công trình khoa học và công nghệ đã được nghiệm thu và áp dụng hiệu quả trong phạm vi cơ sở.
Hiện nay, quy định tại điểm d khoản 1 Điều 74 Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 chưa rõ, dẫn đến có vướng mắc pháp luật về cách kiểu. Cụ thể đối với cụm từ “có 02 sáng kiến được công nhận và áp dụng có hiệu quả trong phạm vi cơ sở hoặc có 02 đề tài khoa học, đề án khoa học, công trình khoa học và công nghệ đã được nghiệm thu và áp dụng hiệu quả trong phạm vi cơ sở”. Dẫn đến có 02 cách hiểu khác nhau:
Cách hiểu 01: đó là A phải thỏa mãn tiêu chí là 02 sáng kiến hoặc 02 đề tài. Trường hợp 01 sáng kiến và đề tài thì không đủ điều kiện.
Cách hiểu 02: Đó là bản chất của sáng kiến và đề tài giống nhau và điểm d khoản 1 điều 74 Luật Thi đua, khen thưởng sử dụng chữ hoặc nếu A có 1 sáng kiến và 01 đề tài thì đều đủ điều kiện theo điểm d khoản 1 điều 74.
Đây là vướng mắc pháp luật trong việc đề nghị xét bằng khen, kính mong Bộ Nội vụ hướng dẫn rõ.
Trả lời:
Tại điểm d khoản 1 Điều 74 Luật Thi đua, khen thưởng quy định một trong các tiêu chuẩn tặng hoặc truy tặng Bằng khen của Bộ, ban, ngành, tỉnh đối với cá nhân như sau: “Có 02 lần liên tục được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” hoặc có liên tục từ 02 năm trở lên được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trong thời gian đó có 02 sáng kiến được công nhận và áp dụng có hiệu quả trong phạm vi cơ sở hoặc có 02 đề tài khoa học, đề án khoa học, công trình khoa học và công nghệ đã được nghiệm thu và áp dụng hiệu quả trong phạm vi cơ sở;”.
Khoản 6, Điều 74 Luật Thi đua, khen thưởng quy định “Bộ, ban, ngành, tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định chi tiết, hướng dẫn cụ thể tiêu chuẩn xét tặng bằng khen của Bộ, ban, ngành, tỉnh đối với cá nhân, tập thể, hộ gia đình thuộc thẩm quyền quản lý”.
Đối chiếu các quy định nêu trên, việc xét tặng Bằng khen của Bộ, ban, ngành, tỉnh đối với cá nhân trong từng trường hợp cụ thể cần căn cứ các quy định của Luật Thi đua, khen thưởng và quy định cụ thể của Bộ, ban, ngành, tỉnh hướng dẫn về tiêu chuẩn xét tặng Bằng khen của Bộ, ban, ngành, tỉnh.
Xem thêm tại Công văn 492/BTĐKT-P.I ngày 2/3/2026.