
Đề xuất xác định giao dịch liên kết đối với hợp đồng cho mượn (Hình từ Internet)
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đối với dự thảo nghị định về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết. Theo đó, đề xuất mở rộng phạm vi xác định quan hệ liên kết.
Tại đó, đề xuất sửa đổi quy định về các bên có quan hệ liên kết (Điều 5 dự thảo Nghị định) như sau:
- Về khái niệm các bên có quan hệ giao dịch liên kết: Sửa đổi, bổ sung khái niệm về các bên có quan hệ liên kết theo hướng dẫn chiếu quy định tại Khoản 17 Điều 4 Luật Quản lý thuế 108/2025/QH13.
"Các bên có quan hệ liên kết là các bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn vào doanh nghiệp; các bên cùng chịu sự điều hành, kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp bởi một tổ chức hoặc cá nhân; các bên cùng có một tổ chức hoặc cả nhân tham gia góp vốn; các doanh nghiệp được điều hành, kiểm soát bởi các cả nhân là thành viên trong cùng một gia đình.".
- Về các trường hợp liên kết cụ thể: Cơ bản kế thừa quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi tại Nghị định 20/2025/NĐ-CP) quy định cụ thể 12 trường hợp xác định là các bên có quan hệ liên kết (gồm 04 trường hợp liên kết về vốn, 06 trường hợp liên kết thông qua sự điều hành, kiểm soát, 02 trường hợp liên kết khác).
Trong đó, Nghị định đã quy định các bên có quan hệ liên kết thông qua việc vay, cho vay nhưng chưa có quy định về quan hệ liên kết thông qua việc mượn, cho mượn.
Do đó, để đảm bảo bao quát hết các trường hợp và tránh bị lợi dụng khi doanh nghiệp và cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc trong một các mối quan hệ gia đình có phát sinh giao dịch vay tài chính nhưng lách câu chữ tiếng Việt thành hợp đồng mượn, cho mượn, dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định mối quan hệ liên kết này.
Nội dung cụ thể được thể hiện tại điểm 1 khoản 2 Điều 5 dự thảo Nghị định như sau: “Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay, mượn, cho mượn ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc một trong các quan hệ tại điểm g khoản này
g) Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột;
Như vậy, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung cụ thể quy định để xác định giao dịch liên kết đối với hợp đồng cho mượn.
Xem thêm tại dự thảo nghị định
|
Tiêu chí phân biệt |
Hợp đồng vay tài sản |
Hợp đồng mượn tài sản |
|
Căn cứ pháp lý |
Mục 4 Chương XVI Bộ luật Dân sự 2015 |
Mục 6 Chương XVI Bộ luật Dân sự 2015 |
|
Khái niệm |
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. |
Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được. |
|
Đối tượng của hợp đồng |
Tài sản tiêu hao hoặc không tiêu hao Ví dụ vật tiêu hao là những thứ như gạo, tiền, … |
Tài sản không tiêu hao Ví dụ như ô tô, máy vi tính,… |
|
Trách nhiệm hoàn trả |
- Nếu tài sản là tiền thì bên vay phải trả đủ số tiền khi đến hạn. - Nếu tài sản là vật thì bên vay phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng (tức là không cần phải trả lại đúng vật đã vay ban đầu), trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý. |
Bên mượn tài sản phải trả lại đúng tài sản đã mượn ban đầu (không được thay thế bằng tài sản cùng loại). |
|
Tính đền bù của hợp đồng |
Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng dân sự có đền bù hoặc không đền bù, cụ thể: - Hợp đồng có tính đền bù khi các bên có thỏa thuận về trả lãi khi vay tài sản. - Hợp đồng không có tính đền bù khi các bên không thỏa thuận về việc trả lãi. |
Bản chất của hợp đồng mượn tài sản là hợp đồng dân sự không có đền bù |
|
Quyền đối với tài sản |
Quyền sở hữu Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó. |
Quyền sử dụng Bên mượn có quyền sử dụng tài sản sau khi nhận tài sản mượn theo đúng công dụng của tài sản và đúng mục đích đã thỏa thuận. |
|
Quyền đòi lại tài sản |
- Đối với hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn: Bên cho vay không được đòi lại trước kỳ hạn, trừ trường hợp được bên vay đồng ý hoặc đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản vay trái mục đích. - Đối với hợp đồng vay tài sản không có kỳ hạn Bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay biết trước một thời gian hợp lý (trừ trường hợp có thỏa thuận khác). |
Bên cho mượn có quyền đòi lại ngay khi: - Bên mượn đã đạt mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn. - Bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn nhưng phải báo cho bên mượn trong thời gian hợp lý. - Bên mượn sử dụng tài sản không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn. |
|
Quyền trả lại tài sản |
Bên vay có quyền trả lại tài sản vay bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một khoản thời gian hợp lý hoặc căn cứ theo thỏa thuận. |
Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được. |
|
Ví dụ |
Doanh nghiệp A chuyển khoản cho doanh nghiệp B 200 triệu đồng và sau 02 tuần, doanh nghiệp B phải trả lại 200 triệu đồng cho doanh nghiệp A => Doanh nghiệp B vay tiền của doanh nghiệp A. |
Doanh nghiệp C giao cho doanh nghiệp D 20 máy tính bàn để sử dụng. Sau khi hoàn thành xong dự án, doanh nghiệp D phải trả lại 20 máy tính này cho doanh nghiệp C. => Doanh nghiệp C cho doanh nghiệp D mượn tài sản. |