Theo Điều 8 Nghị định 65/2026/NĐ-CP, quy định về thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên như sau:
- Người được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên bị thu hồi chứng chỉ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Thôi hành nghề Quản tài viên theo nguyện vọng cá nhân;
+ Được tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động giữ một trong các vị trí công tác quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Nghị định 65;
+ Bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
+ Bị kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật;
+ Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, đặc khu, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
+ Hành nghề Quản tài viên khi chưa được Sở Tư pháp ghi tên vào danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản tại địa phương hoặc hành nghề trong thời gian bị tạm đình chỉ hành nghề;
+ Không đăng ký hành nghề Quản tài viên trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày được cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề Quản tài viên hoặc không tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm từ 03 lần trở lên;
+ Đồng thời hành nghề quản lý, thanh lý tài sản tại hai doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trở lên mà không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 11 của Nghị định 65 hoặc vừa hành nghề quản lý, thanh lý tài sản tại doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản vừa hành nghề với tư cách cá nhân;
+ Quản tài viên là luật sư, kiểm toán viên bị thu hồi chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề, giấy chứng nhận đăng ký hành nghề hoặc các giấy phép, giấy chứng nhận này hết thời hạn hiệu lực;
+ Thuộc trường hợp không được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên tại thời điểm được cấp chứng chỉ.
- Khi có căn cứ cho rằng người đã được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm b, c, d, đ, e, g, h, i và k khoản 1 Điều 8 Nghị định 65, cá nhân, cơ quan, tổ chức có văn bản đề nghị thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên kèm theo tài liệu làm căn cứ đề nghị thu hồi gửi Sở Tư pháp nơi Quản tài viên đang hành nghề hoặc Sở Tư pháp nơi hành nghề cuối cùng của Quản tài viên; trường hợp Quản tài viên chưa hành nghề tại địa phương nào thì gửi về Sở Tư pháp nơi đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.
Quản tài viên thôi hành nghề theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định 65 có đơn đề nghị thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên theo Mẫu TP-QTV-03 kèm theo Nghị định 65, nộp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Sở Tư pháp theo quy định tại khoản này hoặc trực tuyến trên môi trường điện tử theo quy định tại Điều 4 của Nghị định 65.
- Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị của Quản tài viên thôi hành nghề theo nguyện vọng cá nhân hoặc văn bản đề nghị thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên kèm theo tài liệu làm căn cứ đề nghị thu hồi hoặc trong trường hợp tự mình phát hiện Quản tài viên thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 65, Sở Tư pháp xem xét, có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên của người đó; trường hợp từ chối đề nghị phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên; trường hợp từ chối thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do.
- Quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên được gửi cho người bị thu hồi chứng chỉ, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố nơi Quản tài viên đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân hoặc nơi doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản mà người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề có trụ sở.
- Quản tài viên bị thu hồi chứng chỉ hành nghề thì bị xóa tên khỏi danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Quản tài viên không được hành nghề kể từ thời điểm quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên có hiệu lực thi hành.
Xem chi tiết tại Nghị định 65/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/03/2026.
Phạm Thùy Dương