Ngày 29/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 347/2025/NĐ-CP quy định về thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước, có hiệu lực từ 1/1/2026 và thay thế Nghị định 11/2020/NĐ-CP.
Như vậy, Nghị định 11 về Kho bạc hết hiệu lực từ 1/1/2026.
Điều 15. Điều khoản chuyển tiếp1. Các trường hợp tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 11/2020/NĐ-CP quy định về thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước:a) Quy định tại Điều 7 Nghị định số 11/2020/NĐ-CP được tiếp tục thực hiện đối với các khoản chi của năm ngân sách 2025 đến hết ngày 31 tháng 01 năm 2026.b) Hồ sơ thủ tục hành chính đã được Kho bạc Nhà nước tiếp nhận trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 11/2020/NĐ-CP đến khi hoàn thành giải quyết thủ tục hành chính đó (trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này).c) Đối với các chương trình, dự án sử dụng vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi bố trí từ dự toán chi thường xuyên theo Điều ước quốc tế có quy định cụ thể về nội dung này được ký kết trước thời điểm Nghị định số 56/2020/NĐ-CP về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài có hiệu lực thi hành (ngày 25 tháng 5 năm 2020) thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 11/2020/NĐ-CP đến khi hoàn thành chương trình, dự án đó.d) Mẫu biểu kèm theo thủ tục đối chiếu, xác nhận số dư tài khoản của đơn vị giao dịch tại Kho bạc Nhà nước trong trường hợp đối chiếu dự toán, tình hình sử dụng kinh phí ngân sách năm 2025; đối chiếu số dư tài khoản tiền gửi kinh phí ngân sách cấp của đơn vị được chuyển nguồn từ năm 2025 sang năm 2026; đối chiếu tình hình thực hiện dự toán của các nhiệm vụ được chuyển nguồn từ năm 2025 sang năm 2026 thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 9 Điều 13 Nghị định số 11/2020/NĐ-CP đến hết thời hạn đối chiếu, xác nhận số dư tài khoản của đơn vị giao dịch tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Điều 3 Nghị định 347/2025/NĐ-CP quy định chung về thực hiện thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước như sau:
1. Các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, trường hợp nộp ngân sách nhà nước theo phương thức trực tiếp, trường hợp hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước bằng tiền mặt tại ngân hàng và trường hợp có quy định khác tại luật.
2. Trường hợp cá nhân, đơn vị giao dịch không thể thực hiện các thủ tục hành chính tại Điều 6, 7, 8, 9, 10 Nghị định này trên môi trường điện tử do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của pháp luật dân sự thì thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích, qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân, qua ủy quyền theo quy định của pháp luật hoặc thực hiện giao dịch trực tiếp.
3. Đối với các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước có nội dung thành phần hồ sơ thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước thì việc gửi, nhận, xử lý hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính và lưu trữ hồ sơ phải tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
4. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và thực hiện như sau:
a) Đối với hồ sơ được gửi trên môi trường điện tử:
Trường hợp hồ sơ hợp lệ, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính thông báo cho cá nhân, đơn vị giao dịch về việc đã tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả trên môi trường điện tử.
Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính thông báo và hướng dẫn cá nhân, đơn vị giao dịch bổ sung, hoàn thiện hồ sơ trên môi trường điện tử.
b) Đối với hồ sơ không được gửi trên môi trường điện tử:
Trường hợp hồ sơ hợp lệ, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính gửi cá nhân, đơn vị giao dịch Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả.
Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính gửi trả lại cá nhân, đơn vị giao dịch hồ sơ và Phiếu yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ.
5. Việc yêu cầu cá nhân, đơn vị giao dịch bổ sung, hoàn thiện hồ sơ được thực hiện không quá một lần trong suốt quá trình giải quyết thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước; thời hạn trả lại hồ sơ không hợp lệ đối với từng thủ tục hành chính tối đa không quá thời hạn giải quyết thủ tục hành chính đó.
6. Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước đảm bảo thời hạn giải quyết thủ tục hành chính theo quy định tại Nghị định này, trừ trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của pháp luật dân sự thì có thể kéo dài thời hạn giải quyết thủ tục hành chính, nhưng phải thông báo rõ thời hạn giải quyết cuối cùng cho cá nhân, đơn vị giao dịch.
7. Ngoài các thông tin mà cá nhân, đơn vị giao dịch phải kê khai trên các mẫu biểu tại Phụ lục kèm theo Nghị định này, cơ quan, tổ chức phát hành mẫu biểu có thể điều chỉnh định dạng, thêm biểu trưng, hình ảnh hoặc các chỉ tiêu thông tin khác theo yêu cầu quản lý và phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo không bổ sung các chỉ tiêu thông tin liên quan đến đối tượng thực hiện thủ tục hành chính.
8. Cá nhân, đơn vị giao dịch không phải cung cấp các thành phần hồ sơ quy định tại Nghị định này trong trường hợp thành phần hồ sơ đó đã được số hóa có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật hoặc thành phần hồ sơ đó là dữ liệu được tạo lập trong quá trình hoạt động của cơ quan nhà nước, được kết nối, chia sẻ trong quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp sử dụng cho mục đích xác minh, thẩm tra lại tính xác thực của thông tin, giấy tờ, tài liệu đã được số hóa).
9. Công dân Việt Nam khi thực hiện thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước có yêu cầu xuất trình thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước thì có thể sử dụng tài khoản định danh điện tử mức độ 2 theo quy định của pháp luật về căn cước.
10. Quy trình phối hợp giữa các cơ quan để giải quyết thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính.