
Chính thức ban hành quy định thích ứng già hóa dân số có hiệu lực từ 01/7/2026 (Hình từ Internet)
Quốc hội thông qua Luật Dân số 2025 (Luật số 113/2025/QH15) có hiệu lực từ 01/7/2026, thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2003/PL-UBTVQH11 đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh 07/2025/UBTVQH15.
Tại Chương IV Luật Dân số 2025, Quốc hội quy định thích ứng già hóa dân số như sau:
Biện pháp thích ứng với già hóa dân số (Điều 16)
(1) Chủ động chuẩn bị cho tuổi già.
(2) Chăm sóc người cao tuổi.
(3) Phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi.
(4) Các biện pháp về phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi theo quy định của pháp luật về người cao tuổi, pháp luật khác có liên quan.
(5) Các biện pháp thích ứng với già hóa dân số khác theo quy định của pháp luật có liên quan; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Chủ động chuẩn bị cho tuổi già (Điều 17)
(1) Cá nhân chủ động chuẩn bị cho tuổi già ngay từ khi còn trẻ thông qua các hoạt động sau đây:
(i) Chuẩn bị về sức khỏe, tài chính, tâm lý;
(ii) Tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;
(iii) Tham gia học tập, nâng cao kiến thức, kỹ năng để duy trì sức khỏe thể chất, tinh thần và chức năng xã hội;
(iv) Tham gia các hoạt động hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi;
(v) Các hoạt động khác chuẩn bị cho tuổi già.
(2) Nhà nước có chính sách hỗ trợ các nhóm đối tượng ưu tiên chủ động chuẩn bị cho tuổi già.
(3) Khuyến khích cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, gia đình, cá nhân hỗ trợ cá nhân tham gia chuẩn bị cho tuổi già phù hợp với nhu cầu của từng nhóm người cao tuổi. Khuyến khích cá nhân tham gia bảo hiểm sức khỏe theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Chăm sóc người cao tuổi (Điều 18)
(1) Phát triển đa dạng các hình thức chăm sóc người cao tuổi; hỗ trợ cải thiện năng lực xã hội, năng lực tự chăm sóc của người cao tuổi phù hợp mức độ tự chủ, nhu cầu của từng nhóm người cao tuổi.
(2) Các hình thức chăm sóc người cao tuổi bao gồm:
(i) Tự chăm sóc;
(ii) Chăm sóc tại nhà;
(iii) Chăm sóc tại cộng đồng;
(iv) Chăm sóc tại cơ sở chăm sóc người cao tuổi, chăm sóc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về người cao tuổi.
(3) Biện pháp hỗ trợ việc chăm sóc người cao tuổi bao gồm:
(i) Cung cấp kiến thức, hướng dẫn kỹ năng để người cao tuổi duy trì, nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần và chức năng xã hội;
(ii) Hỗ trợ người thân trong gia đình thực hiện chăm sóc người cao tuổi thông qua tập huấn, tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật phù hợp;
(iii) Phát triển mạng lưới tình nguyện viên, câu lạc bộ, nhóm tự giúp nhau.
(4) Khuyến khích sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở giáo dục, cơ sở chăm sóc người cao tuổi và cộng đồng dân cư trong việc hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi có sự tham gia liên thế hệ.
Phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi (Điều 19)
(1) Lồng ghép nội dung chuyên ngành lão khoa vào chương trình cập nhật kiến thức y khoa liên tục.
(2) Khuyến khích tổ chức, cá nhân cấp học bổng hoặc hỗ trợ học phí, sinh hoạt phí cho người học để phát triển chuyên ngành lão khoa, đặc biệt là những người đang làm việc tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở chăm sóc người cao tuổi tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đơn vị hành chính cấp xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo.
(3) Việc phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi được thực hiện theo quy định của pháp luật về người cao tuổi.
Trước đó, tại Pháp lệnh 07/2025/UBTVQH15 đã bãi bỏ quy định mỗi gia đình không sinh quá 02 con. Cụ thể sửa đổi điều 10 Pháp lệnh 07/2025/UBTVQH15 như sau:
Điều 10. Quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản
1. Quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cặp vợ chồng, cá nhân trên cơ sở bình đẳng.
2. Bảo vệ sức khỏe, thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và thực hiện các biện pháp khác liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Xem thêm tại Luật Dân số 2025 (Luật số 113/2025/QH15)