
Nghị định 364/2025/NĐ-CP về thu phí sử dụng đường bộ thu qua đầu phương tiện đối với xe ô tô
Chính phủ đã ban hành Nghị định 364/2025/NĐ-CP về thu phí sử dụng đường bộ thu qua đầu phương tiện đối với xe ô tô.
Theo Điều 2 Nghị định 364/2025/NĐ-CP Đối tượng chịu phí và người nộp phí sử dụng đường bộ như sau:
1. Xe ô tô theo quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, được cấp chứng nhận đăng ký xe, gắn biển số xe và Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận kiểm định) theo quy định của pháp luật là đối tượng chịu phí sử dụng đường bộ, trừ các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 364/2025/NĐ-CP.
Chưa thu phí sử dụng đường bộ đối với xe ô tô mang biển số nước ngoài (bao gồm cả trường hợp xe được cấp chứng nhận đăng ký và biển số tạm thời) được cơ quan có thẩm quyền cho phép tạm nhập, tái xuất có thời hạn theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu phương tiện xe ô tô hoặc tổ chức, cá nhân khác được chủ sở hữu chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng phương tiện xe ô tô (sau đây gọi chung là chủ xe) thuộc đối tượng chịu phí sử dụng đường bộ theo quy định tại khoản 1 Điều này là người nộp phí sử dụng đường bộ, trừ các trường hợp miễn phí theo quy định tại Điều 4 Nghị định này.
Tại khoản 1 Điều 7 Nghị định quy định việc tính, khai, thu và nộp phí đối với xe ô tô của các tổ chức, cá nhân đăng ký tại Việt Nam, trừ xe ô tô của lực lượng quân đội, công an như sau:
- Đối với xe ô tô kiểm định lần đầu hoặc được miễn kiểm định lần đầu, thời điểm tính phí sử dụng đường bộ là từ ngày được cấp Giấy chứng nhận kiểm định. Đối với xe ô tô cải tạo, thời điểm tính mức phí thay đổi (nếu có) là từ ngày xe được cấp Chứng nhận cái tạo. Đối với xe ô tô chở người đến 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe) khi chuyển đổi loại hình từ xe không hoạt động kinh doanh vận tải sang hoạt động kinh doanh vận tải và ngược lại, thời điểm tính mức phí thay đổi là từ ngày cấp Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô hoặc Quyết định thu hồi Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hoạt động vận tải đường bộ.
- Đối với xe ô tô có chu kỳ kiểm định từ 01 năm trở xuống, chủ xe thực hiện nộp phí cho cả chu kỳ kiếm định theo hình thức quy định tại khoản 3 Điều này. Hết thời hạn nộp phi theo chu kỳ kiểm định, chủ xe phải đến cơ sở đăng kiếm để kiểm định và nộp phí cho chu kỳ kiểm định tiếp theo.
- Đối với xe ô tô có chu kỳ kiểm định 24 tháng hoặc 36 tháng, chủ xe thực hiện nộp phí sử dụng đường bộ theo 12 tháng hoặc nộp cho cả chu kỳ kiểm định theo hình thức quy định tại khoản 3 Điều này. Hết thời hạn nộp phí theo nấm hoặc chu kỳ kiểm định, chủ xe phải đến cơ sở đăng kiểm để kiềm định và nộp phí cho thời gian tiếp theo.
- Trường hợp chủ xe đến kiểm định xe ô tô trước hoặc sau thời gian theo chu kỳ kiểm định quy định, cơ sở đăng kiểm kiểm tra xe và tính số tiền phí nối tiếp từ thời điểm cuối của khoảng thời gian đã nộp phí lần trước cho đến hết chu kỳ kiểm định của kỳ tiếp theo (nếu chu kỳ kiểm định tiếp theo trên 12 tháng, chủ xe có thể nộp đến 12 tháng hoặc nộp cả chu kỳ kiểm định). Trường hợp thời gian tính phí không tròn tháng thì số phí phải nộp được tính bằng số ngày lẻ chia (:) 30 ngày nhẫn (x) với mức phi của 01 tháng
- Trường hợp chủ xe chưa nộp phí của các chu kỳ kiểm định trước theo thời hạn quy định thì ngoài số phi phải nộp cho chu kỳ tiếp theo, chủ xe còn phải nộp số tiến phí chưa nộp của các chu kỳ kiểm định trước. Cơ sở đăng kiểm tính và thực hiện truy thu số tiền phí phải nộp của các chu kỳ kiểm định trước (số tiền phí phải nộp bằng mức thu phí của 01 tháng nhân (x) với thời gian chưa nộp phí).
- Trường hợp chủ xe đề nghị nộp phí cho thời gian dài hơn chu kỳ kiểm định, cơ sở đăng kiểm tính và thực hiện thu phí theo yêu cầu của chủ xe.
- Đối với xe ô tô được thanh lý, phát mại (có nguồn gốc từ xe ô tô bị tịch thu, bị thu hồi bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; xe ô tô của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập (mang biển kiểm soát màu xanh); xe ô tô của lực lượng quân đội, công an, trừ xe ô tô mang biển số xe có sẽ ri “KT”; xe ô tô thế chấp bị tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
thu hồi theo quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm) thì chủ xe mới (sau khi xe đã được cấp chứng nhận đăng ký xe ô tô theo chủ mới) chỉ phải nộp phí từ thời điểm mang xe đi kiểm định để lưu hành. Khi kiểm định lưu hành, chủ xe phải xuất trình cho cơ quan đăng kiểm các giấy tờ liên quan như: Quyết định tịch thu hoặc thu hồi của cấp có thẩm quyền; Văn bản thông báo thu hồi, biên bản bàn giao tài sản thế chấp; Quyết định cho phép thanh lý tài sản đối với các tài sản thuộc sở hữu của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng quân đội, công an; Biên bản hoặc hợp đồng thực hiện hoàn tất thủ tục mua tài sản được bán thanh lý, bán đấu giá.
Trường hợp xe ô tô được thanh lý, phát mại đã nộp phí qua thời điểm chủ xe mới đi kiểm định lại để lưu hành thì chủ xe mới nộp phí tính từ thời điểm nối tiếp theo kỳ hạn đã nộp phí của chu kỳ trước.
- Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu nộp phí theo năm dương lịch gửi thông báo bằng văn bản (lần đầu hoặc khi phát sinh tăng, giảm xe ô tô) đến cơ sở đăng kiểm và thực hiện nộp phí theo năm dương lịch đối với các xe ô tô của mình. Hằng năm, trước ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo, chủ xe phải đến cơ sở đăng kiểm nộp phí cho năm tiếp theo.
- Khi chuyển quyền sở hữu xe ô tô, chủ xe cũ và chủ xe mới tự thỏa thuận về quyền lợi và nghĩa vụ đối với nhà nước về phí sử dụng đường bộ theo quy định của pháp luật về dân sự. Trường hợp chủ xe cũ và chủ xe mới không thỏa thuận về quyền lợi và nghĩa vụ đối với nhà nước về phí sử dụng đường bộ, chủ xe mới được kế thừa toàn bộ quyền lợi, nghĩa vụ đối với nhà nước về phí sử dụng đường bộ đối với xe ô tô nhận chuyển quyền.
- Trong trường hợp cơ sở đăng kiểm phát hiện việc thu sai mức phí hoặc nhầm loại xe ô tô, cơ sở đăng kiểm phải liên hệ với chủ xe để thu bổ sung nếu thu thiếu hoặc trả lại phí nếu thu thừa cho chủ xe. Cơ sở đăng kiểm và chủ xe lập Biên bản xử lý việc thu sai mức phí sử dụng đường bộ theo Mẫu số 07 tại Phụ lục II để làm cơ sở thu bổ sung hoặc trả lại phí.