
Bổ sung 02 dịch vụ thuộc danh mục nhà nước định giá từ 2026 (Hình từ Internet)
Quốc hội thông qua Luật Giá sửa đổi 2025 số 140/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/01/2026.
Theo đó bổ sung 02 dịch vụ thuộc danh mục nhà nước định giá như sau:
(1) Dịch vụ sử dụng hạ tầng trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ số tập trung, khu công nghệ cao và cụm công nghiệp đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh định giá cụ thể.
(2) Dịch vụ giám định ngoài tố tụng tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự do tổ chức giám định tư pháp công lập là đơn vị sự nghiệp công lập, Văn phòng giám định tư pháp thực hiện theo quy định tại Luật Giám định tư pháp. Các Bộ, ngành quản lý chuyên môn thuộc lĩnh vực giám định tư pháp định giá tối đa. Quy định này có hiệu lực từ ngày 01/5/2026.
Như vậy, từ 2026, Bổ sung 02 dịch vụ thuộc danh mục nhà nước định giá.
Bỏ quy định nhà nước định giá nhà ở xã hội từ 2026
Theo quy định trước đây tại Luật Giá 2023 quy định nhà ở xã hội thuộc danh mục hàng hóa dịch vụ nhà nước định giá tại mục 26 Phụ lục II như sau:
DANH MỤC HÀNG HÓA, DỊCH VỤ NHÀ NƯỚC ĐỊNH GIÁ
…
|
26 |
Nhà ở công vụ |
Thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở |
|
Nhà ở xã hội theo quy định của Luật Nhà ở |
||
|
Dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư đối với nhà chung cư thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn |
||
|
Nhà ở, dịch vụ khác thuộc phạm vi Nhà nước định giá theo quy định của Luật Nhà ở |
Tuy nhiên, Luật Giá sửa đổi 2025 đã sửa đổi mục 26 Phụ lục II theo hướng nhà nước chỉ định giá nhà ở xã hội thuộc tài sản công. Cụ thể như sau:
DANH MỤC HÀNG HÓA, DỊCH VỤ NHÀ NƯỚC ĐỊNH GIÁ
…
|
26 |
Nhà ở công vụ, nhà ở xã hội thuộc tài sản công |
Thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở |
|
Dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư thuộc tài sản công Nhà ở, dịch vụ khác thuộc phạm vi Nhà nước định giá theo quy định của pháp luật về nhà ở |
Như vậy, từ 01/01/2026, bỏ quy định nhà nước định giá nhà ở xã hội
Tổ chức thực hiện bình ổn giá của Ủy ban nhân dân cấp xã
Theo Điều 20 Luật Giá quy định việc tổ chức thực hiện bình ổn giá của Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện như sau:
1. Việc thực hiện bình ổn giá trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 18 của Luật giá được triển khai như sau:
- Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực đánh giá mức độ biến động mặt bằng giá thị trường của hàng hóa, dịch vụ, mức độ ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội, sản xuất, kinh doanh, đời sống người dân; có văn bản gửi Bộ Tài chính tổng hợp để trình Chính phủ xem xét, quyết định chủ trương bình ổn giá;
- Trên cơ sở chủ trương bình ổn giá của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm chủ trì triển khai, hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện một hoặc một số phương thức: kiểm tra yếu tố hình thành giá hoặc yêu cầu doanh nghiệp báo cáo một số yếu tố hình thành giá; kiểm soát hàng hóa tồn kho; đánh giá cung cầu hàng hóa, dịch vụ để xác định nguyên nhân, làm cơ sở cho việc lựa chọn áp dụng biện pháp, thời hạn và phạm vi bình ổn giá phù hợp. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức triển khai và báo cáo kết quả thực hiện gửi Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì triển khai;
- Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực ban hành quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp bình ổn giá và thời hạn, phạm vi áp dụng bình ổn giá; tổ chức triển khai, hướng dẫn thực hiện biện pháp bình ổn giá và báo cáo Chính phủ kết quả bình ổn giá, đồng thời gửi Bộ Tài chính để tổng hợp vào báo cáo tổng hợp, phân tích, dự báo giá thị trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức triển khai biện pháp bình ổn giá và báo cáo kết quả gửi Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì triển khai;
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm chấp hành biện pháp bình ổn giá được công bố và thực hiện kê khai lần đầu, kê khai lại giá theo quy định tại Điều 28 của Luật giá với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Việc thực hiện bình ổn giá trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 18 của Luật giá được triển khai như sau:
- Đối với việc bình ổn giá trên phạm vi cả nước, Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực đánh giá diễn biến thực tế và mặt bằng giá thị trường của hàng hóa, dịch vụ; có văn bản gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, trình Chính phủ quyết định chủ trương, biện pháp, thời hạn bình ổn giá phù hợp. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ cần bình ổn giá không nằm trong Danh mục hàng hóa, dịch vụ bình ổn giá nhưng cần thực hiện ngay, trên cơ sở đề nghị của Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực, Bộ Tài chính trình Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương, biện pháp, thời hạn bình ổn giá đối với hàng hóa, dịch vụ đó. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện theo phân công của Chính phủ;
- Đối với việc bình ổn giá tại phạm vi địa phương, sở quản lý ngành, lĩnh vực đánh giá diễn biến thực tế và mặt bằng giá thị trường của hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn; có văn bản gửi Sở Tài chính tổng hợp, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định chủ trương, biện pháp, thời hạn bình ổn giá phù hợp. Các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện theo phân công của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Chính phủ về kết quả bình ổn giá, đồng thời gửi Bộ Tài chính tổng hợp vào báo cáo tổng hợp, phân tích, dự báo giá thị trường;
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm chấp hành biện pháp bình ổn giá được công bố và thực hiện kê khai lần đầu, kê khai lại giá theo quy định tại Điều 28 của Luật giá với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Trường hợp cơ quan có thẩm quyền ban bố tình trạng khẩn cấp và có quy định khác về việc thực hiện bình ổn giá thì thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
Xem thêm tại Luật Giá sửa đổi 2025.