Chi tiết điểm mới Luật Khiếu nại 2025 sửa đổi tại Luật số 136/2025/QH15

24/01/2026 19:28 PM

Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo 2025 (Luật số 136/2025/QH15). Theo đó sau đây là Chi tiết điểm mới Luật Khiếu nại 2025 sửa đổi.

Chi tiết điểm mới Luật Khiếu nại 2025 sửa đổi tại Luật số 136/2025/QH15

Chi tiết điểm mới Luật Khiếu nại 2025 sửa đổi tại Luật số 136/2025/QH15 (Hình từ Internet)

Chi tiết điểm mới Luật Khiếu nại 2025 sửa đổi tại Luật số 136/2025/QH15

Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo 2025 (Luật số 136/2025/QH15), có hiệu lực từ 01/07/2026.

Theo đó, Chi tiết điểm mới khi sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại như sau:

- Về chủ thể khiếu nại: khoản 1 Điều 30 của Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi năm 2025) quy định “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”. Do đó, Luật sửa đổi quy định về chủ thể thực hiện quyền khiếu nại từ “công dân” thành “cá nhân” (khoản 1, khoản 2 Điều 2), đồng thời sửa đổi người có quyền, lợi ích hợp pháp do hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại từ “công dân” thành “cá nhân” tại khoản 2 Điều 24.

- Về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại: trong thực tiễn, việc giải quyết khiếu nại có thể phải tạm dừng hoặc chấm dứt do các tình huống phát sinh như: sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thể tiếp tục tham gia quá trình giải quyết khiếu nại; cần chờ kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về vấn đề có liên quan trực tiếp đến nội dung khiếu nại; người khiếu nại rút toàn bộ khiếu nại; người khiếu nại chết mà quyền và nghĩa vụ liên quan đến nội dung khiếu nại không được thừa kế hoặc cơ quan, tổ chức khiếu nại giải thể, phá sản hoặc kết thúc hoạt động mà quyền và nghĩa vụ liên quan đến nội dung khiếu nại không được kế thừa; vụ việc không còn đối tượng hoặc nội dung để giải quyết; vụ việc đã được Tòa án thụ lý hoặc giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực. Do đó, Luật bổ sung Điều 11a quy định các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại. Việc tạm đình chỉ, đình chỉ được thực hiện bằng quyết định của người có thẩm quyền, nêu rõ lý do và căn cứ pháp luật, gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn thì người giải quyết khiếu nại tiếp tục giải quyết khiếu nại và thông báo cho các bên liên quan; thời gian tạm đình chỉ không tính vào thời hạn giải quyết khiếu nại.

Để thống nhất với việc bổ sung thẩm quyền tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại của người giải quyết khiếu nại tại Điều 11a, Luật bổ sung quyền của người khiếu nại được nhận quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại (điểm h khoản 1 Điều 12) để đảm bảo chặt chẽ và bảo vệ quyền của người khiếu nại.

- Về rút khiếu nại: để đáp ứng yêu cầu thực tiễn giải quyết khiếu nại, Luật bổ sung quy định người khiếu nại có thể rút một phần nội dung khiếu nại; người khiếu nại có thể rút khiếu nại bằng biên bản ghi nhận ý kiến rút khiếu nại của người khiếu nại khi làm việc với người giải quyết khiếu nại hoặc người xác minh nội dung khiếu nại (khoản 1 Điều 10). Trường hợp người khiếu nại rút một phần nội dung khiếu nại thì nội dung khiếu nại còn lại được tiếp tục giải quyết theo quy định (khoản 2 Điều 10). Nội dung khiếu nại đã rút sẽ không được xem xét, giải quyết lại, trừ trường hợp có căn cứ xác định người khiếu nại rút khiếu nại là do bị ép buộc, đe dọa (khoản 3 Điều 10).

Đồng bộ với quy định về rút khiếu nại đã được sửa đổi tại Điều 10, Luật đã sửa đổi nội dung giải thích từ ngữ đối với cụm từ “Rút khiếu nại” tại khoản 3 Điều 2. Theo đó, rút khiếu nại là việc người khiếu nại đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chấm dứt một phần hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại của mình.

- Về quyền của người giải quyết khiếu nại lần hai: Luật bổ sung quyền của người giải quyết khiếu nại lần hai được tham khảo ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn phù hợp khi thấy cần thiết (điểm đ khoản 1 Điều 15) ngoài việc tham khảo ý kiến của Hội đồng tư vấn để đảm bảo tính chính xác trong việc giải quyết khiếu nại.

- Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại: để đồng bộ với Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật sửa đổi, hoàn thiện thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, của công chức, viên chức do mình quản lý trực tiếp (Điều 17); sửa đổi, hoàn thiện thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết (khoản 2 Điều 21).

- Về đối thoại trong giải quyết khiếu nại: Trong thực tế, có trường hợp người khiếu nại không tham gia đối thoại khi được mời. Điều này gây khó khăn cho việc giải quyết khiếu nại và không có cơ sở pháp lý để tiếp tục giải quyết hay tạm dừng việc giải quyết. Do vậy, Luật bổ sung quy định trường hợp người khiếu nại được mời nhưng không tham gia đối thoại mà không có lý do chính đáng thì người giải quyết khiếu nại vẫn tiếp tục giải quyết khiếu nại (khoản 6 Điều 30) đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

- Về đơn vị được giao tham mưu giải quyết khiếu nại, giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp quản lý công tác giải quyết khiếu nại: để phù hợp với việc sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra, Luật bổ sung trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị được giao tham mưu giải quyết khiếu nại tại các cơ quan quản lý nhà nước không có cơ quan thanh tra (Điều 25); sửa đổi, hoàn thiện quy định các Bộ, cơ quan ngang Bộ không có Thanh tra Bộ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã thì đơn vị được giao tham mưu giải quyết khiếu nại giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp quản lý công tác giải quyết khiếu nại (khoản 3 Điều 63).

- Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại lần hai, Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định trường hợp khiếu nại lần hai thì người khiếu nại gửi kèm theo quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (nếu có) tại khoản 1 Điều 33; bổ sung quy định trong quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có nội dung kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu (điểm c khoản 1 Điều 56).

- Do Chương V của Luật Khiếu nại đã hết hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014 theo quy định tại Điều 35 Luật Tiếp công dân năm 2014, vì vậy, Luật đã chỉnh sửa, hoàn thiện quy định tại điểm a khoản 4 và khoản 5 Điều 8 cho chính xác. Theo đó, việc tiếp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung được thực hiện theo quy định tại Luật Tiếp công dân.

- Bên cạnh đó, để phù hợp với thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, Luật đã bãi bỏ quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện (Điều 18); Luật lược bỏ quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong giải quyết khiếu nại là vi phạm quy chế tiếp công dân (khoản 8 Điều 6) do nội dung này đã được quy định trong Luật Tiếp công dân và không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Khiếu nại.

Xem thêm tại Luật sửa đổi Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo 2025

Chia sẻ bài viết lên facebook 6

Các tin khác
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn
Đơn vị chủ quản: Công ty cổ phần LawSoft. Giấy phép số: 32/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 15/05/2019 Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3935 2079